GIÁO LÝ‎ > ‎

Tìm hiểu sơ lược về Đạo Cao Đài

TÌM HIỂU SƠ LƯỢC ĐẠO CAO ĐÀI

(Do HT. Nguyễn Trung Đạo soạn thảo)

___________

 

Bài 1:

Ý NGHĨA TỪ NGỮ CAO ĐÀI

 

Cao Đài là cái đài cao nơi Linh Tiêu Điện trong Ngọc Hư Cung, ở từng Trời Hư Vô Thiên nơi cõi thiêng liêng, là nơi ngự của Đức Chí Tôn Ngọc Hoàng Thượng Đế mỗi khi họp Đại Hội Thiên Triều. 

Vào năm 1972, trong một đàn cơ tại Cần Thơ, Đức Chí Tôn đã giải thích hai chữ Cao Đài bằng bài thơ tứ tuyệt sau đây: 

Linh Tiêu nhất tháp thị Cao Đài,                

Đại Hội quần Tiên thử ngọc giai.               

Vạn trượng hào quang tùng thử xuất,         

Cổ danh bửu cảnh Lạc Thiên Thai.

 

Tạm dịch:              

Nơi Điện Linh Tiêu có một cái tháp gọi là Cao Đài,           

Đại Hội các vị Tiên nhóm trước bệ ngọc ấy.          

Hào quang muôn trượng từ đó chiếu ra,               

Tên xưa của cảnh quí báu đó là “Lạc Thiên Thai”.

 

Từ ngữ Cao Đài thường được gặp với hai hình thức:

-Thứ nhứt , để chỉ một Tôn Giáo, ví dụ: Đạo Cao Đài,  Cao Đài Đại Đạo.

-Thứ nhì, để chỉ một Đấng Giáo Chủ, ví dụ: Đấng Cao Đài, Cao Đài Thượng Đế.

Danh xưng Cao Đài được Đức Chí Tôn giải thích trong bài Thánh Giáo sau đây trích từ Phổ Cáo Chúng Sanh:

              

Nhiên Đăng Cổ Phật thị ngã,        

Thích Ca Mâu Ni thị ngã,              

Thái Thượng Nguơn Thỉ thị Ngã,               

Gia Tô Giáo Chủ thị Ngã,             

Kim viết CAO ĐÀI.

 

Tạm dịch:         

Nhiên Đăng Cổ Phật là Ta,           

Thích Ca Mâu Ni Phật là Ta,        

Thái Thượng Nguơn Thỉ là Ta,      

Gia Tô Giáo Chủ là Ta,    

Nay gọi là Đấng CAO ĐÀI.

           

Khai Đạo tại Việt Nam, Đức Thượng Đế đã mượn chỗ Ngài ngự để làm danh xưng cho Ngài và cho mối Đạo mới. Như vậy:          

- Danh xưng mới của Đức Thượng Đế là Đức Cao Đài,          

- Tên mối Đạo mới là Đạo Cao Đài hay Đại Đạo TKPĐ.

 

Bài 2:

Ý NGHĨA TỪ NGỮ TAM KỲ PHỔ ĐỘ

 

Tam Kỳ Phổ Độ là lần thứ ba Đức THƯỢNG ĐẾ mở Đạo để tận độ nhơn sanh. Nền Đại Đạo được Đức CHÍ TÔN NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ khai mở vào thời Tam Kỳ Phổ Độ có tên là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, thường gọi là Đạo Cao Đài.           

Trong bài Thánh Giáo ngày 8-4-1926, Đức Cao Đài giải về ý nghĩa của từ ngữ “Tam Kỳ Phổ Độ” như sau:        

“Tam Kỳ Phổ Độ là gì?        

Là phổ độ lần thứ ba.  

Sao gọi là phổ độ. Phổ độ nghĩa là gì ? 

Phổ là bày ra. Độ là cứu chúng sanh.

Chúng sanh là gì ?

Chúng sanh là toàn cả nhơn loại chớ không phải lựa chọn một phần người như ý phàm các con tính rối.

 

Muốn trọn hai chữ Phổ Độ phải làm thế nào? Thầy hỏi?

Phải bày Bửu Pháp chớ không đặng dấu nữa…

Nghe và tuân theo ”.                        

(TNHT. I.13 - in năm 1972)
 

Đạo Cao Đài có Sử quan giải thích tiến trình lịch sử của nhân loại trải qua 3 giai đoạn: Thượng Nguơn, Trung Nguơn và Hạ Nguơn. Cuối mỗi nguơn là một thời kỳ Đức CHÍ TÔN NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ cho truyền Đạo xuống thế gian để phổ độ nhơn sanh. 

- Nhứt Kỳ Phổ Độ: vào cuối đời Thượng Nguơn, bắt đầu cách nay khoảng 6.000  năm.

- Nhị Kỳ Phổ Độ: vào cuối đời Trung Nguơn, bắt đầu cách nay khoảng 2.500 năm,

- Tam Kỳ Phổ Độ: vào cuối đời Hạ Nguơn, bắt đầu cách nay khoảng 85 năm.

 

Theo giáo lý Cao Đài, nhơn loại hiện đang ở vào cuối đời Hạ Nguơn Tam Chuyển, sắp bước qua đời Thượng Nguơn Tứ Chuyển. 

* Trong Nhứt Kỳ Phổ Độ:

-  Đức Nhiên Đăng Cổ Phật  làm giáo chủ Phật Giáo,

-  Đức Thái Thượng Đạo Tổ  làm giáo chủ Tiên Giáo,

-  Đức Văn Tuyên  Đế Quân  làm giáo chủ Nho Giáo.           

* Trong Nhị Kỳ Phổ Độ:

-  Đức Phật Thích Ca  chấn hưng Phật Giáo,

-  Đức Lão Tử  chấn hưng Tiên Giáo,

-  Đức Khổng Tử  chấn hưng Nho Giáo.            

* Trong Tam Kỳ Phổ Độ:

-  Đức Lý Đại Tiên Trưởng  cầm quyền Tiên Giáo,

-  Đức Phật Bà Quan Âm  cầm quyền Phật Giáo,

-  Đức Quan Thánh Đế Quân  cầm quyền Nho Giáo. 

 

Bài 3:

TÔN CHỈ ĐẠO CAO ĐÀI

 

Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, thường gọi tắt là Đạo Cao Đài, là một nền Tân Tôn Giáo được Đức NGỌC HOÀNG THƯỢNG ĐẾ dùng huyền diệu cơ bút sáng lập tại Việt Nam vào ngày Rằm tháng Mười năm Bính Dần, tức 19-11-1926, tại tỉnh Tây Ninh.            

Tôn chỉ của Đạo Cao Đài được ghi rõ ở phần đầu của bài Sớ Văn Thượng Tấu, nội dung như sau: “Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhứt ”. 

-Tam Giáo gồm có: Phật Giáo, Tiên Giáo, Nho Giáo.

-Ngũ Chi gồm có:  Phật Đạo, Tiên Đạo, Thánh Đạo, Thần Đạo, Nhơn Đạo. 

Chữ NGUYÊN có nghĩa là gốc, chữ NHỨT có nghĩa là một, nhưng cả hai chữ đều chỉ ĐỨC THƯỢNG ĐẾ, vì Ngài là gốc của các nền tôn giáo, và là một ngôi Thái Cực tuyệt đối.

Tam Giáo qui nguyên là ba nền tôn giáo đều trở về một gốc. Cái gốc đó là chơn lý tuyệt đối hằng hữu, tức là Đức Thượng Đế. 

Ngũ Chi phục nhứt là năm nhánh đạo trở lại thành một. Một đó là Đại Đạo, mà một đó cũng là Thái Cực, tức Đức Thượng Đế. 

Nói Tam Giáo qui nguyên là nói trong phạm vi Á Đông, nơi mà ba nền Tôn Giáo (Nho, Thích, Lão) được mở ra để giáo hóa nhơn sanh trong vùng nầy.           

Nói Ngũ Chi phục nhứt là nói trên toàn thể thế giới, gồm tất cả các Tôn Giáo trong đó có Tam Giáo.

           

Tóm lại: Câu Tam Giáo qui nguyên, Ngũ Chi phục nhứt có nghĩa là 3 nền Tôn Giáo (Nho, Thích, Lão) ở vùng Á Đông và 5 nhánh Đạo (Phật, Tiên, Thánh, Thần, Nhơn) ở toàn thế giới đều qui về một Gốc là Đức THƯỢNG ĐẾ.           

Tôn chỉ của Đạo Cao Đài cũng đã được Quí vị Tiền Khai nói lên trong Tờ Khai Đạo gởi cho Nhà Cầm Quyền Pháp trước ngày làm Lễ Khai Đạo, nội dung tóm lược như sau: 

Vốn từ trước, ở Việt Nam có ba Tôn Giáo là Thích Giáo, Lão Giáo và Khổng Giáo (tức Phật Giáo, Tiên Giáo và Nho Giáo). Tiên Nhơn chúng ta sùng bái cả ba Đạo ấy, lại nhờ do theo tôn chỉ quí báu của các vị Chưởng Giáo truyền lại mới được an cư lạc nghiệp.  

Trong sử còn ghi câu “Gia vô bế hộ, lộ bất thập di”chỉ nghĩa là con người thuở ấy an nhàn cho đến ban đêm ngủ không cần đóng cửa nhà, còn ngoài đường thấy của rơi không ai lượm.  

Nhưng buồn thay cho đời thái bình phải mất vì mấy duyên cớ sau đây: 

1- Những người tu hành đều phân chia ra nhiều phe, nhiều phái mà kích bác lẫn nhau, chớ tôn chỉ của Tam Giáo đều như một, là làm lành lánh dữ và kỉnh thờ Đấng Tạo Hóa,

2- Lại canh cải mối chánh truyền của các Đạo ấy làm cho thất chơn truyền,

3- Những dư luận phản đối nhau về Tôn Giáo mà ta thấy hằng ngày cũng tại bả vinh hoa và lòng tham lam của nhơn loại mà ra. Nên chi người Việt Nam bấy giờ đều bỏ hết những tục lệ tận thiện, tận mỹ ngày xưa.

           

Thấy tình thế như vậy mà đau lòng, cho nên nhiều người Việt Nam vì căn bổn, vì tôn giáo, đã tìm phương thế hiệp Tam Giáo lại làm một (quy nguyên phục nhứt) gọi là Đạo Cao Đài hay là Đại Đạo.           

May thay cho chúng sanh, Thiên tùng nhơn nguyện, Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế hằng giáng đàn dạy Đạo và hiệp Tam Giáo lập ĐẠI ĐẠO TAM KỲ PHỔ ĐỘ tại cõi Nam nầy. Tam Kỳ Phổ Độ nghĩa là Đại Ân Xá lần thứ ba. Những lời của Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế dạy chúng ta đều cốt để truyền bá tôn chỉ Tôn Giáo.                 

Đạo Cao Đài dạy cho biết:

- Luân lý cao thượng của Đức Khổng Tử,

- Đạo đức của Phật Giáo và Tiên Giáo là làm lành, lánh dữ, thương yêu nhơn loại, cư xử thuận hòa mà lánh cuộc ly loạn giặc giả.

           

Nói tóm lại, Tôn Chỉ của Đạo Cao Đài là: Qui Nguyên Tam Giáo, Hiệp Nhứt Ngũ Chi.              

Tam Giáo gồm có: Phật Giáo, Tiên Giáo, Nho Giáo.              

Ngũ Chi gồm có: Phật Đạo, Tiên Đạo, Thánh Đạo, Thần Đạo, Nhơn Đạo.

 

* Trong Nhị Kỳ Phổ Độ:

- Giáo Chủ của Đạo Phật là Đức Phật Thích Ca.    

- Giáo Chủ của Đạo Tiên là Đức  Lão Tử.         

- Giáo Chủ của Đạo Nho là ĐứcKhổng Tử. 

* Nay trong thời Tam Kỳ Phổ Độ, để tránh sự chia rẽ giữa các Tôn Giáo, Đức Chí Tôn hiệp cả 3 Tam Giáo trên lại thành một nền Đại Đạo, gọi là Đạo Cao Đài, do chính Đức Tôn làm Giáo Chủ.

 

Do vậy mà trong Phật Mẫu Chơn Kinh có câu:                   

Hiệp vạn chủng nhứt môn đồng mạch,         

Qui thiên lương quyết sách vận trù.              

Xuân Thu, Phất Chủ, Bát Vu,          

Hiệp qui Tam Giáo hữu cầu chí chơn.
 

_______________

 

Comments