Các Chuyên đề Cùng Học Giáo Lý

Kính thông báo:

Theo Ban Chuyên Trách CT/CHGL, các Chuyên đề (Bài Giáo lý) sẽ lần lượt được phổ biến tại Mục nầy theo trình tự thời biểu của kế họach:  (có
Pdf Files đính kèm)
Vào tuần lễ đầu các tháng 11/2012 - 1/2013 - 3/2013. (Đợt ba được điều chỉnh lại vào đầu tháng 4/2013).

Kính mong Quý Đồng Đạo và quý độc giả nhớ đón xem.
Trân trọng.

Ban Biên Tập


TÀI LIỆU CHUYỂN ĐỢT I 
( Bài 1 và Bài 2)

(Xem tiếp tài liệu Đợt II, III  tiếp theo)
*   *   *

CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO ĐÀI HẢI NGOẠI
Chương Trình Cùng Học Giáo Lý

Bài 1:

TẠI SAO ĐẠO CAO ĐÀI GỌI LÀ ĐẠI ÂN XÁ
(Bài Giảng của Ngài Bảo Đạo Hồ Tấn Khoa tại Lớp Cao Đẳng Hạnh Đường
khai giảng ngày 17 tháng 4 năm Giáp Dần /DL 08-05-1974).

* * *

Như chúng ta nhận biết, Đức Chí Tôn với lòng Từ Bi tha thiết thương con cái của Người, không nỡ để chìm đắm nơi sông mê bể khổ, nên mỗi Nguơn Hội, Đức Chí Tôn đề có mở một kỳ Phổ Độ để cứu vớt nhơn sanh và rước các Nguyên Linh tức là Nguyên Nhân xuống trần trở về ngôi vị cũ.

 

Như thế thì mỗi kỳ Phổ Độ đều có mở một cuộc Ân Xá, mở cửa dễ dàng cho các đẳng Chơn hồn có đủ phương lập vị.

Chỉ trong hai tiếng Phổ Độ cũng đủ cho thấy rõ ý nghĩa đó: Phổ là phô trương bày bố ra cho mọi người đều biết, còn Độ là độ rỗi cứu vớt sanh chúng thoát khỏi chốn u ám tối tăm sa đọa để đem về cảnh thanh nhàn hạnh phúc.

Vì thế nên mỗi Nguơn Hội đều có mở một kỳ Phổ Độ tức là một kỳ Ân Xá. Về Thượng Nguơn tam chuyển thì mở Nhứt Kỳ Phổ Độ, qua Trung Nguơn thì mở Nhị Kỳ Phổ Độ và đến Hạ Nguơn thì mở Tam Kỳ Phổ Độ.

 

Như vậy thì mỗi kỳ đều có một cuộc Ân Xá, nhưng tại sao trong Tam Kỳ Phổ Độ lại gọi là Đại Ân Xá, tức là một cuộc Ân Xá lớn.

 

Đức Chí Tôn mở Đạo kỳ ba nầy còn cho Kinh tận độ người sống và luôn cả linh hồn người chết.

Đức Chí Tôn còn mở rộng cửa cho các Đẳng linh hồn dầu cho Nguyên nhân, Hóa nhân hay là Quỷ nhân cũng đều được cứu độ hết...

 

Để thực hiện cuộc Đại Ân Xá nầy, Đức Chí Tôn có ban cho các Môn Bí Pháp về Tắm Thánh, Giải Oan, Phép Hôn Phối và cắt bảy dây Oan Nghiệt cùng Phép Độ Thăng cho hàng Chức Sắc Nam cũng như Nữ. Đức Chí Tôn còn dạy Đức Hộ Pháp tạo Thuyền Bát Nhã và sắp đặt nghi lễ Chèo thuyền (Chèo hầu và chèo đưa).(1)

 

- Trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn dùng Thuyền Bác Nhã với Bí Pháp huyền vi nhiệm mầu Thiêng Liêng giao cho Đức Di Lạc Vương Phật làm chủ Thuyền để kêu toàn Linh căn chơn tánh cửu thập nhị ức Nguyên Nhơn.

 

Với lòng Từ Bi vô biên vô lượng, Đức Chí Tôn còn cho lịnh đóng cửa Địa Ngục và bãi bỏ hết những khổ hình đã đặt để từ xưa đến giờ nơi cửa Thập Điện Diêm Cung để cho các Chơn hồn kể từ nay, chiếu Luật vay trả, chỉ phải chịu luân hồi vay vay, trả trả ở tại mặt thế nầy cho đến khi nào sạch hết oan khiên thì sẽ đặng ân thưởng.

 

Trong bài Kinh cúng Đức Phật Mẫu có đoạn như sau:

"Trùng huờn phục vị, Thiên môn,

Nguơn linh, Hóa chủng, Quỉ hồn nhút thăng.

Vô siêu đọa quả căn hữu pháp,

Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan.

Vô Địa ngục, vô Quỉ quan,

Chí Tôn đại xá nhứt trường Qui nguyên”...

 

- Theo câu thứ nhứt đoạn Kinh nầy dùng chữ Trùng huờn chứ không có dùng chữ Tuần huờn, Bà Bát Nương Diêu Trì Cung có ý cho biết là theo hai Kỳ Phổ Độ trước thì các Chơn hồn tuần huờn tức là tuần tự trước sau tùy duyên, tùy phận mà trở về, còn trong Tam Kỳ Phổ Độ thì Đức Chí Tôn cho về chung một lượt nên mới dùng chữ Trùng huờn, tức là về trùng với nhau...

- Câu thứ nhì thì định:

“Nguơn linh, Hóa chủng, Quỉ hồn nhứt thăng.

Chỉ rõ là dù cho Nguyên Nhơn, Hóa Nhơn hay Quỉ Nhơn đều cho đi lên hết không phân biệt hạng cao hay thấp.

Từ thử đến bây giờ chưa có lần nào mà Đức Chí Tôn mở rộng cửa như buổi Tam Kỳ Phổ Đô nầy.

- Câu thứ ba và thứ tư định:

“Vô siêu đọa quả căn hữu pháp,

Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan.”

Chỉ rõ là từ đây không còn cảnh siêu đọa của các linh hồn mà căn quả của mỗi người tạo ra trong mỗi kiếp sanh đã có luật định sẵn là phải chịu nhơn kiếp lưu oan, tức là tùy nhơn kiếp mà phải trả vay mãi, cho đến khi trả sạch hết oan khiên, bằng không thì các oan gia nghiệp quả cứ lưu chuyển mãi thế thôi.

Hễ tạo nhơn lành thì hưởng quả lành, còn tạo nhơn ác dữ, thì phải trả quả ác và dữ.

Nói như vậy có nghĩa là không còn khổ hình cưa xẻ như hồi Nhị Kỳ Phổ Độ nơi cõi Địa ngục Âm phủ nữa, mà Địa ngục sẽ ở tại trần gian nầy để cho mỗi Chơn hồn phải chịu khổ hình vay trả ở mặt thế nầy mà thôi.

-Câu thứ năm:

“Vô Địa ngục, vô Quỉ quan” đã nói một cách rõ rệt là trong Tam Kỳ Phổ Độ nầy không còn Đia Ngục và cũng không còn Quỉ quan mà tiếng thông thường gọi là Quỉ sứ, tức là những nhân viên của Âm phủ, có phận sự tra khảo đánh đập, hành hà khổ khắc các hồn có phạm tội lỗi mà ở các chùa Phật thường hay cho vẽ thành những bức tranh để bổn Đạo đến Chùa xem coi cho biết sợ mà giữ mình.

- Qua đến câu chót đã nói:

“Chí Tôn đại xá nhứt trường qui nguyên” thì chỉ rõ những quyết định vừa kể trên là một Đại Ân Xá của Đức Chí Tôn.

Hai tiếng Đại Xá trong đoạn Kinh nầy chỉ rõ cho ta biết Tại sao Tam Kỳ Phổ Độ nay được gọi là Đại Ân Xá kỳ ba.

Thật vậy, trong Nhứt Kỳ và Nhị Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn có cho Ân xá đến một mức nào chứ không có mở rộng hoác cửa ra như kỳ Đại Xá nầy. Trong hai kỳ trước có cơ Phổ Độ để cứu vớt và độ rỗi các Chơn linh hoặc các Chơn hồn biết thức tỉnh quay về nẻo chánh, chớ không phải như trong Tam Kỳ Phổ Độ nầy, Đức Chí Tôn đã ban cho Nhơn loại một đặc ân chưa từng có.

 

Thêm nữa trong bài Kinh Giải Oan có đoạn:

"May gặp đặng Hồng ân chan rưới,

Giải trái oan sạch tội tiền khiên.

Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,

Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây Phương”...

 

Theo hai câu thi đầu thì Nhơn loại rất may mắn gặp thời kỳ nầy được Đức Chí Tôn chan rưới Hồng ân bằng cách truyền cho Bí Pháp Giải Oan để rửa sạch hết tội tiền khiên.

Người mới nhập môn vào Đạo Cao Đài khi lập Minh thệ thì được hưởng đặc ân là thọ Phép Giải Oan. Phép nầy rửa sạch tội tiền khiên của mình từ trước.

Phép nầy cũng là một Đại Ân xá những tội trước, nhưng từ ngày nhập môn về sau thì phải rán giữ đừng gây thêm tội mới cho đến ngày chết, tức là ngày trở về với Đức Chí Tôn (Đại Từ Phụ) thì được nhẹ nhàng rất nhiều rồi.

Ngoài Bí Pháp Giải Oan nầy, Đức Chí Tôn còn ban cho Phép Tắm Thánh, Phép làm Hôn Phối và đặc biệt nhứt là Phép Xác và Phép Độ Thăng.

Người Tín hữu Cao Đài nào giữ đặng (10) mười ngày chay mỗi tháng đổ lên được thọ truyền Bửu Pháp, tức là được hưởng Phép Xác, tức là được cắt hết bảy dây Oan nghiệt, nên được xuất ra nhẹ nhàng để về cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

Còn Phép Độ Thăng là để giúp cho Linh hồn những Chức Sắc được nhập vào Bát Quái Đài dễ dàng hơn.

Hai câu thi sau nhắc lại cho biết là trong Tam Kỳ Phổ Độ nầy, Đức Chí Tôn đã cho đóng Địa ngục, mở Tầng Thiên. Các Đẳng Chơn hồn tùng nơi Chơn Pháp của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ một khi xuất lìa khỏi xác thì được phép của Lục Nương Diêu Trì Cung và Tiếp Dẫn Đạo Nhơn đưa Phướn linh dẫn đường đi, khỏi sợ lạc vào Bích Du Cung và Tam Thập Lục Động của Quỉ Vương để đi thẳng về Đức Chí Tôn và Đức Phật Mẫu.

 

Trong bài Kinh Cầu Hồn khi hấp hối có đoạn:

“Diêu Trì Cung sai nàng Tiên Nữ,

Phép Lục Nương gìn giữ Chơn hồn.

Tây Phương Tiếp Dẫn Đạo Nhơn,

Phướn linh khai mở nẻo đường Lôi âm”...

 

Và có thêm đoạn sau nầy:

“Dầu trọn kiếp sống không nên Đạo,

Dầu oan gia tội báo buộc ràng.

Chí Tôn xá tội giải oan,

Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ vong”....

 

* * *

 

Theo các khoản nhận xét bên trên, chúng ta thấy rõ rằng trong Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn đã mở một cuộc Đại Ân Xá vĩ đại mà thường gọi là Đại Ân Xá kỳ ba để tận độ Chúng sanh trong hai phương diện là Độ Sanh và Độ Tử.

Trong lúc còn sanh tiền tại thế nầy thì dùng đủ mọi phương diện để độ rỗi và dìu dẫn cả con cái của Đức Chí Tôn được sống cho nên Đạo và khi chết rồi thì có đủ Kinh Tận độ linh hồn cùng ban những Bí Pháp để rửa tội và đưa linh hồn đi đến nơi đến chốn.

Ai là người hữu duyên hữu phước, được sanh vào thời kỳ nầy khá sớm mau thức tỉnh quày đầu hướng thiện về cửa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ để được hưởng Hồng Ân của Đức Chí Tôn trong muôn ngàn năm một thuở. Nếu để lỡ trễ, Đại Ân Xá nầy không biết mấy muôn ngàn kiếp nữa mới đăng hưởng một lần./.

__________

* Chú thích:

(1) Cũng trong Bài Giảng của Ngài Bảo Đạo “Ý Nghĩa về Thuyền Bác Nhã” có nêu rõ:

- Qua Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn Đại Xá mở Cơ Tận Độ đặng đem 92 ức Nguyên Nhơn còn lại trở về ngôi vị cũ để thức tỉnh các Chơn linh nhớ lại nguồn cội sớm mau giác ngộ để mong lên Thuyền Bác Nhã mà trở về.

- Trong nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, Đức Chí Tôn dùng Thuyền Bác Nhã với Bí Pháp huyền vi nhiệm mầu Thiêng Liêng giao cho Đức Di Lạc Vương Phật làm chủ Thuyền để kêu toàn Linh căn chơn tánh cửu thập nhị (92) ức Nguyên Nhơn hãy mau thức tỉnh trở về cửa Đạo Cao Đài hầu nương nơi Thuyền Bác Nhã sớm trở về Lôi Âm Tự và Bạch Ngọc Kinh hội ngộ cùng Thầy.

Về phần Thể Pháp thì Đức Hộ Pháp vâng lịnh Đức Diêu Trì Kim Mẫu thọ mạng nơi Đức Chí Tôn tạo Thuyền Bác Nhã nơi mặt thế nầy là tượng trưng Thể Pháp độ dẫn các Đẳng Chơn hồn do Đức Kim Bàn Phật Mẫu vận chuyển như trong đoạn Kinh cúng Phật Mẫu sau đây:

"Trung khổ hải độ Thuyền Bác Nhã,

Phước Từ Bi giải quả trừ căn.

Huờn hồn chuyển đọa vi thăng,

Cửu Tiên hồi phục Kim Bàn Chưởng Âm”....

 

Theo nghĩa mấy câu Kinh là Thuyền Bác Nhã để nơi mặt thế nầy đặng rước xác tục đưa qua khỏi sông mê bể khổ ở cõi trần để huờn hồn phục sinh siêu thăng nơi cõi Thiêng Liêng Hằng Sống.

____________________

Bài Tham Khảo

ĐẠI ÂN XÁ LÀ GÌ ?

(Trích “Phuơng Pháp Tu hành Thời Đại Ân Xá” - Soạn giả: HT Nguyển văn Hồng)

*   *   *

Đại Ân Xá hay Đại Xá là Đức Chí Tôn ban ơn huệ lớn lao bằng cách tha thứ tội lỗi cho những kẻ có tội.

Kể từ ngày khai Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ (ĐĐTKPĐ), tức là khai Đạo Cao Đài, Đức Chí Tôn mở ra một thời kỳ Đại Ân Xá cho các đẳng linh hồn trong càn khôn thế giới và cho toàn cả chúng sanh, để chúng sanh tu hành dễ bề đắc Đạo. Cho nên ĐĐTKPĐ cũng được gọi là Đại Ân Xá Kỳ Ba.

Muốn hưởng được sự ân xá nầy, mỗi người phải biết thành tâm hối lỗi, ăn năn sám hối tội tình, cải Tà qui Chánh, lập lời Minh Thệ, nhứt quyết  tu hành, lập công bồi đức. Những tội lỗi của họ đã chồng chất từ nhiều kiếp trước được Ơn Trên cất giữ lại (không đem ra trừng phạt) và cho họ làm một tân dân (người dân mới) trong cửa Đạo, nhờ vậy người nhập môn hành Đạo rảnh nợ tiền khiên, chỉ lo trau giồi Đạo hạnh, lập công bồi đức, để sau cùng lấy công đức trừ dứt tội tình, thì có thể đắc Đạo trong một kiếp tu.

Ngày khai Đạo Cao Đài là ngày 15-10-Bính Dần (1926) là ngày khởi đầu thời Đại Ân Xá Kỳ Ba.

Đức Chí Tôn ban cho nhơn loại các đặc ân sau đây :

1/- Tha thứ tội lỗi ở các kiếp trước của những người biết hồi đầu hướng thiện, Nhập môn cầu Đạo, lập Minh Thệ với Đức Chí Tôn, nhứt tâm tu hành. Cho nên trong “Kinh Giải Oan” và “Kinh Cầu Bà con Thân bằng Cố hữu đã Qui liễu” có các câu sau đây :

     May đặng gặp hồng ân chan rưới,

     Giải trái oan sạch tội tiền khiên.

(Kinh Giải Oan)

     Chí Tôn xá tội giải oan,

     Thánh, Thần, Tiên, Phật cứu nàn độ căn.

     Ơn Tạo hóa tha tiền khiên trước,

     Đưa linh phan tiếp rước nguyên nhân.

     (Kinh Cầu Bà con Thân bằng Cố hữu đã Qui liễu)

2/- Đức Chí Tôn đặc ân cho các tín đồ Cao Đài, khi chết, linh hồn được Cửu vị Tiên Nương hướng dẫn đi lên 9 từng Trời của Cửu Trùng Thiên, mỗi nơi đều được quan sát các cảnh Trời đẹp đẽ mà dưới thế gian không bao giờ có, đến bái kiến các Đấng Thần, Thánh, Tiên, Phật, đến Minh Cảnh Đài để xem xét tất cả hành vi thiện ác của mình đã gây ra trong suốt kiếp sống nơi cõi trần, đến Diêu Trì Cung ở từng Trời Tạo Hóa Thiên để bái kiến Đức Phật Mẫu, rồi tiếp tục đi lên Ngọc Hư Cung bái kiến Đức Chí Tôn để cây Cân Công Bình Thiêng Liêng của Tòa Tam Giáo cân tội phước.

Phước nhiều thì được phong thưởng bằng phẩm vị Thần, Thánh, Tiên, Phật tương xứng. Nếu tội nhiều thì bị đưa đến cõi Âm Quang, vô Tịnh Tâm Xá mà định tâm tịnh trí xét mình, cầu nguyện Đức Chí Tôn độ rỗi. Tại đây có Thất Nương Diêu Trì Cung giáo hóa các nữ tội hồn và Đức Địa Tạng Vương Bồ Tát giáo hóa các nam tội hồn.

3/- Đức Chí Tôn cho đóng cửa Địa ngục. Các tội hồn không còn bị hành hình thảm khốc nơi Địa ngục như trước nữa, mà được đưa đến cõi Âm Quang để học Đạo, cầu khẩn Đức Chí Tôn cứu rỗi, chờ ngày tái kiếp trở lại cõi trần để trả cho xong nghiệp quả.

4/- Đức Chí Tôn cho mở cửa Cực Lạc Thế Giới để rước những người đầy đủ công đức đắc Đạo. Nếu người nào quyết chí tu hành, chỉ trong một kiếp tu cũng có thể đắc Đạo. “Nên Thầy cho một quyền rộng rãi cho cả nhơn loại trong Càn khôn thế giới, nếu biết ngộ kiếp một đời tu, đủ trở về cùng Thầy đặng.” 

   Đóng Địa ngục, mở tầng Thiên,

   Khai đường Cực Lạc, dẫn miền Tây phương.

                                         (Kinh Giải Oan)

5/- Những người bị tội Tận đọa Tam đồ bất năng thoát tục được ân xá, những người bị tội Ngũ Lôi tru diệt, cũng nhờ Đại Ân Xá nầy mà được Đức Phật Mẫu huờn lại chơn thần, tất cả đều đặng tái kiếp lập công chuộc tội.

Thời kỳ Đại Ân Xá không phải kéo dài đến thất ức niên (700.000 năm) mà chỉ được giới hạn trong khoảng thời gian từ ngày Khai Đạo cho đến khi Đức Di-Lạc Vương Phật mở Đại Hội Long Hoa là chấm dứt, vì đã bước vào một thời kỳ tiến hóa khác của nhơn loại.

Chúng ta hôm nay gặp Đạo Cao Đài, được làm môn đệ của Thượng Đế, là một duyên may ngàn năm một thuở, nếu không mau mau bước chân vào cửa Đạo lo việc tu hành, lập công bồi đức, cứ để dần dà ngày tháng trôi qua, có mong chi đắc Đạo trở về ngôi vị cũ.

 ______________________

CÂU HỎI THẢO LUẬN: (05 Câu)

Câu 1- Mỗi kỳ phổ độ ĐCT đề có mở đợt Ân Xá cho con cái của nguời.  Tại sao chỉ trong Tam Kỳ Phổ Độ lại gọi là Đại Ân Xá, tức là ĐCT mở một cuộc Ân Xá lớn. Đai Ân Xá là gì?

Câu 2- Hiểu như thê nào về câu Kinh Phật Mẫu “Vô địa ngục, Vô Quỉ Quan” , và trong Kinh Giải Oan câu: “Đóng Địa nguc, mở Tầng Thiên”?

Câu 3- Làm sao để huởng Ân xá đặc biệt nầy thời Tam Kỳ Phổ độ.?

Câu 4- Trong câu Kinh Phật Mẫu: “Trùng hườn phục vị Thiên môn”, hai chữ “TRÙNG HƯỜN” có ý nghĩa như thế nào ?

Câu 5: Hai câu Kinh sau đây có mâu thuẩn với Kinh Sám Hối không?.

“Vô siêu đọa quả căn hữu Pháp,

Vô khổ hình nhơn kiếp lưu oan.”

 

HẾT


 

CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO ĐÀI HẢI NGOẠI
Chương Trình Cùng Học Giáo Lý

Bài 2:

VÀO ĐẠO MINH THỆ VÌ SAO?
TẠI SAO MÔN ĐỆ CAO ĐÀI PHẢI GIỮ TRÒN CÂU MINH THỆ?

(Trích tóm luợc theo “Buớc Đầu Học Đạo” - Soạn giả: HT Nguyễn văn Hồng)

*  *  *

I- GIẢI THÍCH LỜI MINH THỆ:

Lời Minh Thệ nầy do Đức Chí Tôn giáng Cơ lập ra, chớ không phải do một người phàm nào đặt để, nên có tính cách Thiêng liêng huyền bí.

Câu “MINH THỆ” gồm 36 chữ, số 36 là bội số của 12, mà số 12 là số riêng của Đức Chí Tôn.

Tên họ  . . . . . . Tuổi . . . . . .

“Thề rằng: Từ đây biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế, chẳng đổi dạ đổi lòng, hiệp đồng chư Môn đệ, gìn luật lệ Cao Đài, như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục”.

1/- Biết một Đạo Cao Đài Ngọc Đế:

“Là trọn nhìn một Đạo Cao Đài của Đức Chí Tôn, ngoài ra không đặng xu hướng theo ngoại giáo, Tà quyền, lập nên phe đảng, chia rẽ tâm lý, gây nên sự rắc rối chia ly làm mất Đức tin trong cửa Đạo.

2/- Hiệp đồng chư Môn đệ, gìn Luật lệ Cao Đài:

“Tín đồ Nhập môn rồi phải tuân hành Luật pháp chơn truyền của Đại Đạo là: Tân Luật, Đạo Luật, Pháp Chánh Truyền, v..v...và thi hành các qui điều giáo huấn của Hội Thánh để làm tròn phận sự mình. Ấy là phương hiệp đồng nhứt trí của toàn Đạo, Tín đồ, Chức việc, Chức sắc Hội Thánh để nhặt gìn Luật lệ Cao Đài của Đấng Chí Tôn.

3/- Như sau có lòng hai thì Thiên tru Địa lục:

“Ăn ở hai lòng, bất trung bất chánh, dối Thầy phản bạn và làm những việc trái với Luật lệ của Đại Đạo, cùng hành động vô nhân vô nghĩa, mất sự thương yêu, mất điều tín nhiệm, gieo rắc những điều ngờ vực hiềm khích giữa tình đồng Đạo và manh tâm bội nghịch cùng Hội Thánh, sẽ chịu Luật Công Bình của Trời Đất tru diệt (giết phạt).

Minh Thệ đối với Luật vô vi tức là Thiên Điều của Chí Tôn và các Đấng Phật, Tiên, Thánh, Thần cầm quyền trị thế là một ân huệ được chọn làm Môn đệ của Đấng Chí Tôn.

Khi giữ tròn lời Minh Thệ sẽ được các Đấng hộ trì, ban ân lành, Đạo tâm sáng suốt, trọn vẹn đức tin, đến ngày thành công đắc Đạo, được ghi tên vào Tiên tịch (Bộ Tiên).

Minh Thệ đối với Luật hữu hình của Hội Thánh là một giá trị uy tín đối với Đạo và Hội Thánh. Khi giữ tròn lời Minh Thệ sẽ được tín nhiệm kính nể, bảo trợ hưởng mọi đặc ân với Luật Công Bình của Hội Thánh.

Lời Minh Thệ Nhập môn cầu Đạo là một điều rất quan hệ của người giữ Đạo và là một lời hứa trọn vẹn tín thành với Hội Thánh cùng các Đấng Thiêng liêng.

Một kiếp sanh ở hiện tại và tương lai, phước hay tội, cũng do nơi lời Minh Thệ nầy.

“Vậy, toàn Đạo nam nữ nên trân trọng gìn theo lời Minh Thệ.”

(Trích Văn thư của Hội Thánh: Dẫn giải lời Minh Thệ nhập môn cầu Đạo ngày 27 / Tân Mão, dl. 4-3-1951)

II- TẠI SAO PHẢI MINH THỆ CÓ ÍCH LỢI GÌ ?

“Bần Đạo nói thật, buổi Đức Chí Tôn đến tạo Quốc Đạo cho nòi giống Rồng Tiên nầy, chính Ngài cầm cơ đi đến các Tỉnh kêu từ nhà, gọi từ đứa con, cho không biết bao nhiêu bài khuyến dạy, tạo thành một nền tôn giáo Cao Đài là Quốc Đạo. Bần Đạo tưởng chưa có người nào đem cả tinh thần tâm đức mà thi ân cho dường ấy, Đức Chí Tôn đến độ rỗi, lập giáo, rồi lại bắt Minh Thệ.

Hỏi tại sao Ngài lại bắt Minh Thệ?

Là buộc con cái phải hiệp đồng cùng nhau. Mỗi người có một chút Đức tin. Thầy bảo qui Đức Tin ấy lại, phải có tâm đức tin tưởng, yêu ái lẫn nhau, phải nhìn nhận có Thầy, có Đức Tin nơi Thầy. Hại thay! Có nhiều đứa con của Ngài cũng nghe, cũng tìm Đạo, cũng thọ giáo, cũng Minh Thệ đủ phép tắc, biết bao nhiêu khi mới đến cùng Thầy, quì dưới chơn Thầy, mà hễ ra khỏi chơn Ngài rồi thì lại phản phúc Ngài và con cái của Ngài.” 

(Trích Thuyết Đạo của Đức Phạm Hộ Pháp)

1/- Mục đích của Minh Thệ là gì ?

-Về phần người:

Minh Thệ cốt để người tín đồ dứt khoát tư tưởng mà thủ tín với lời Thề, không dám làm điều gì trái với lời Thề, tức là trái với Luật Đạo, để hết lòng lo lập công bồi đức, trau tâm luyện tánh mà đạt đến phẩm vị cao trọng nơi cõi Thiêng liêng.

-Về phần Thiêng liêng: 

Người có lập Minh Thệ thì các Đấng Thiêng liêng mới nhìn nhận là Môn đệ của Đức Chí Tôn, tức là tín đồ của Đại Đạo, mới hộ trì không cho Tà ma khuấy phá, gây trở ngại bước đường tu tiến.

2/- Minh Thệ có ích lợi gì ?

Khi lập Minh Thệ rồi mới được làm Môn đệ của Đức Chí Tôn, mới hưởng được Hồng ân của Chí Tôn ban cho:

-Thứ nhứt: Môn đệ giữ tròn Luật Đạo, ăn chay 10 ngày trong một tháng thì vào hàng Đạo hữu, đối phẩm Địa Thần trong Cửu phẩm Thần Tiên.

-Thứ nhì: Môn đệ giữ tròn Luật Đạo, ăn chay 10 ngày mỗi tháng thì khi qui liễu được làm Phép Xác, Phép Đoạn Căn, Độ Thăng, làm Tuần Cửu, Đại Tường, Tiểu Tường, để đưa chơn hồn đi lên qua 12 từng Trời, bái kiến các Đấng Tiên Phật, bái kiến Đức Phật Mẫu và Đức Chí Tôn, sau đó được Tòa Tam Giáo Ngọc Hư Cung định phận.

Ngoài ra, từ xưa tới nay, muốn đạt những thành công vĩ đại thì bổn thân người đó phải có chí khí kiên cường bất khuất vượt qua các trở ngại lâm nguy; còn muốn đạt đến phẩm vị Tiên, Phật thì phải có lời Đại nguyện, giống y lời Minh Thệ :

- Trước khi thành Phật A Di Đà, Ngài có 49 điều Đại nguyện.

- Thái Tử Sĩ Đạt Ta lúc mới xuất gia, có phát ra 04 điều Đại nguyện.

Vậy, việc Minh Thệ là một việc làm rất có ích và rất có ý nghĩa đối với mỗi tín đồ Cao Đài, về phương diện phàm trần cũng như về phương diện Thiêng liêng.

III-  THẤT THỆ THÌ SAO ?

Thế nào là Thất Thệ?  Thất Thệ là làm mất lời Thề, tức là không giữ được lời Thề, không thực thi đúng lời Thề, là vi phạm lời Thề.

Trong phần “Giải thích lời Minh Thệ” của Hội Thánh có ba mục: 1, 2, 3, nếu không giữ đúng theo ba mục nầy thì phạm vào tội Thất Thệ.

Như Thất Thệ có bị Thiên tru Địa lục không ?

Đáp : Theo nguyên tắc thì phải bị Thiên tru Địa lục đúng theo lời Thề, nhưng đối với một ông Cha hiền từ là Đại Từ Phụ, chỉ biết hăm he phạt nặng cho con cái sợ sệt mà lo tu hành, chớ có bao giờ Ngài giết chết con cái của Ngài.

Những người thất thệ chỉ bị đọa vào Phong Đô, tức Cõi Âm Quang để học Đạo, nơi đó có Thất Nương Diêu Trì Cung giáo hóa nữ phái và Địa Tạng Vương Bồ Tát dạy nam phái cho biết rõ lẽ Đạo, đâu là phước, đâu là tội. Khi đã thức tỉnh biết rõ thì các Đấng nơi ấy cho đi đầu thai chuyển kiếp để trả quả theo đúng Luật Công Bình Thiêng Liêng, đồng thời lo tu hành để được Đức Chí Tôn cứu vớt.

TNHT:  Hồng ân của Đại Từ Phụ như thế mà vẫn thấy các chơn hồn sa đọa hằng hà, mỗi ngày xem chẳng ngớt, là tại thiếu kém đức tin và lòng trông cậy nơi Thầy, đó là mấy Đạo hữu tín đồ Thất Thệ. (TNHT. 1 2 Hợp nhứt, B165)

*    *    *

Tài liệu Đọc thêm:

(Trích Thánh Ngôn Hiệp Tuyển, Q.2/1966)

BÁT NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG

(Giải thích về Âm Quang)

Âm Quang là khí chất hỗn độn sơ khai, khi Chí Tôn chưa tạo hóa; lằn Âm khí ấy là Diêu Trì Cung chứa để tinh vi vạn vật, tỷ như cái  Âm Quang của phụ nữ có trứng cho loài người.

Khi Chí Tôn đem Dương Quang ấm áp mà làm cho hóa sanh, thì cái khoảnh Âm Quang phải thối trầm làm tinh đẩu là cơ quan sanh hóa vạn linh. Song lằn Âm Quang ấy có giới hạn, nghĩa là nơi nào ánh Linh Quang của Chí Tôn chưa chiếu giám đến, thì phải còn tối tăm mịt mờ, chẳng sanh, chẳng hóa.

Vậy thì nơi khiếm ánh Thiêng Liêng là Âm Quang, nghĩa là Âm Cảnh hay là Địa Ngục, Diêm Đình của Chư Thánh lúc xưa đặt hiệu.

Vậy thì chính lời nhiều Tôn giáo, nơi ấy là những chốn phạt tù những Hồn vô căn, vô kiếp, nhơn quả buộc ràng, luân hồi chuyển thế, nên gọi là Âm Quang, đặng sửa chữ Phong Đô Địa Phủ mê tín gieo truyền, chớ kỳ thật là nơi để cho các chơn hồn giải thân định trí (một nơi trung gian giữa Thiên đường và Địa ngục hay là mờ mờ mịt mịt).

Ấy là một cái quan ải, các chơn hồn khi qui Thiên, phải đi ngang qua đó. Sự khó khăn bước khỏi qua đó là đệ nhứt sợ của các chơn hồn. Nhưng tâm tu còn lại chút nào nơi xác thịt con người, cũng nhờ cái sợ ấy mà lo tu niệm. Có nhiều hồn chưa qua khỏi đặng, phải chịu ít nữa, đôi trăm năm, tùy Chơn thần thanh trược, Chí Tôn buộc trường trai cũng vì cái quan ải ấy.

* Tòa Thánh Tây Ninh, tháng 10 năm (1932)

______________________

CÂU HỎI THẢO LUẬN: (05 Câu)

Câu 1- Vào Đạo phải minh thệ chủ ý gì? Tại sao phải Minh Thệ khi vào Đạo.?

Câu 2- Mục đích của Minh Thệ là gì ?

Câu 3- Minh thệ có lợi ích gì đối với nguời tín đồ Cao Đài?

Câu 4- Hiểu như thế nào về Thất Thệ?

Câu 5- Như Thất Thệ có đươc hưởng Đại Ân Xá không?

HẾT


                                                                TÀI LIỆU CHUYỂN - ĐỢT II

                                                                                          (Bài 3 và 4)


CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO ĐÀI HẢI NGOẠI

Chương Trình Cùng Học Giáo Lý

Bài 3:

LẠY VÀ Ý NGHĨA SỰ LẠY TRONG TAM KỲ PHỔ ĐỘ

* Tài liệu trích từ:

“Chương Trình Phổ Thông Giáo Lý” - Ban Thế Đạo Hải Ngoại và
“Bước Đầu Học Đạo” - Soạn giả: HT Nguyễn văn Hồng.

*  *  *

I- Ý NGHĨA SỰ LẠY:


A- Trích Thánh Ngôn Hiệp Tuyển (Q1. 1964, trg.10-11)
(25 Fevrier 1926)

“LẠY LÀ GÌ?  

Là tỏ ra bề ngoài, lễ kỉnh trong lòng.

Chấp hai tay lại là tại sao?

Tả là Nhựt, hữu là Nguyệt, vị chi Âm Dương. Âm Dương hiệp nhứt, phát khởi Càn Khôn. Sanh sanh hóa hóa tức là Đạo.

Lạy kẻ sống hai lạy là tại sao?

Là nguồn cội của nhơn sanh lưỡng hiệp Âm Dương mà ra, Ấy là Đạo.     

Vong phàm lạy bốn lạy là tại sao?

Là vì hai lạy của phần người, còn một lạy Thiên, một lạy Địa. 

Lạy Thần, lạy Thánh thì ba lạy là tại sao?

Là lạy Đấng vào hàng thứ ba của Trời, và cũng chỉ rằng lạy Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt. Ấy là Đạo.  

Lạy Tiên, lạy Phật thì chín lạy là tại sao?

Là lạy chín Đấng Cửu Thiên khai hóa.

    

Còn lạy Thầy mười hai lạy là tại sao?

Các con không biết đâu.

Thập nhị khai Thiên là Thầy, Chúa cả Càn Khôn Thế Giới; nắm trọn Thập Nhị Thời Thần vào tay. “Số mười hai là số riêng của Thầy”.

 

B- Trích trong Quyển "GIẢNG ĐẠO YẾU NGÔN"

(Tác giả: Nguyễn văn Kinh - Hội Thánh giữ Bản Quyền- Tái bản Năm Kỷ Dậu-1969).

 

CÁCH LẠY NHƯ THẾ NÀO? 

Lạy chấp hai tay Ấn Tý.

Tả thuộc Dương, hữu thuộc Âm.

Ấn Tý đó là chỉ “Thiên Khai ư Tý”. Trời mở nơi đầu Hội Tý. Sách gọi: Vô danh Thiên Địa chi thỉ là khi trước chưa có Trời Đất gọi là “Hư không Nhứt Khí”.

Còn tay mặt thuộc phía Âm, ấp ngoài bàn tay trái là Âm Dương bào ấp. Khí Âm ở ngoài, khí Dương ở trong. Âm Dương lưỡng hiệp kêu Càn Khôn định vị.

Còn ngón cái tay mặt chỉ qua ngôi Dần bên tay trái, tay Âm chỉ qua tay Dương là dấu tỏ “Nhơn sanh ư Dần”. Dương Trung hữu Chơn Âm, trong bàn tay Dương có ngón Âm ẩn trong, nên người bẩm khí Âm Dương mà sanh, mới có Hậu Thiên hình chất.

    

Bởi Nhứt Kỳ Phổ Độ sơ Long Huê Hội, Thái Thượng lập Đạo dạy cách lạy hai bàn tay chấp nắm co lại, như cái bông búp.

Qua Nhị Kỳ Phổ Độ Nhị Long Huê Hội, Thích Ca lập Đạo dạy cách lạy hai bàn tay sè ra nhập sát lại một, như bông nở.

Nay đến Tam Kỳ Long Huê Hội, Đức Chí Tôn lập Đạo dạy cách lạy chấp tay Ấn Tý, kiết quả lại như trái cây có hột, kêu là kiết quả thâu viên, độ tận Chúng sanh trở về cựu Vị (Ngôi cũ) là Hạ Nguơn thâu viên kiết quả Tam Kỳ Phổ Độ, Tam Giáo Quy Nguyên Phục Nhứt.

    

Trước khi vào lạy, đứng ngay thẳng rồi xá ba xá, chỉ tỏ dấu thành kỉnh, tam dương khai thới, Đạo lập lần thứ ba cho hiệp Chơn Lý.

Khi chấp tay đưa lên trán chỉ dấu kỉnh Thiên, xá xuống chí gối chỉ dấu kỉnh Địa, đem về để ngay ngực chỉ dấu kỉnh Nhơn, cũng đều gom lại Tâm mà thành kỉnh Đức Chí Tôn.

Nên lạy cũng cho phù hợp theo Nguơn Hội mới nhằm Đạo, nên cách lạy phải như thế vậy.

(Hết trích)

 

*Ghi chú:

Được biết, có người thắc mắc khi lạy vong phàm mà bắt Ấn Tý, nên thỉnh giáo Ngài Hiến Pháp về việc nầy, thì Ngài giải đáp đại ý như sau: “Trong Thánh Ngôn, Thầy dạy cách bắt Ấn Tý và cách lạy, Qua chưa hề thấy dạy lạy vong phàm hay Thần, Thánh, Tiên, Phật mà bắt Ấn nào khác, chỉ khác nhau là số lần lạy. Nếu mấy Em thấy có lời dạy khác hơn thì cho Qua biết để Qua ra Đạo lịnh sửa đổi”.

 

II. CÁCH BẮT ẤN TÝ VÀ LẠY:


A- ẤN TÝ - CÁCH BẮT ẤN TÝ:

1/- Ấn Tý là gì ?

Ấn là dấu hiệu đặc biệt về mặt Đạo có tác dụng huyền bí do hai bàn tay kết lại tạo ra. Tý là chi đầu tiên trong Thập nhị Địa chi: Tý, Sửu, Dần, Mẹo, Thìn, v..v . . .

Trên bàn tay trái, vị trí của Tý ở tại chân ngón áp út, Sửu ở chân ngón giữa và Dần ở chân ngón trỏ.

Ấn Tý là cái ấn mà ngón tay cái của bàn tay trái co lại chỉ vào chi Tý rồi nắm lại, bàn tay mặt ốp bên ngoài mà ngón cái chỉ vào chi Dần của bàn tay trái.

 

2/- Cách bắt Ấn Tý:

Ấn Tý là cái ấn đặc biệt của Đạo Cao Đài, cách bắt như sau: (Xem hình vẽ 1, 2, 3, 4)

- Hình 1: vị trí của ba Địa chi: Tý, Sửu, Dần trong thập nhị Địa chi nơi bàn tay trái.

- Hình 2: ngón cái co lại đặt tại chi Tý, ý nghĩa là: Thiên khai ư Tý (Trời mở ra ở hội Tý).

- Hình 3: nắm bốn ngón tay trái lại, bên trong có ngón cái làm như cái hột ở giữa.

- Hình 4: bàn tay mặt ốp bên ngoài nắm tay trái ấy, ngón cái của bàn tay mặt đặt vào vị trí chi Dần của tay trái, ý nghĩa: Nhơn sanh ư Dần (Người sanh ra ở hội Dần).

Hai tay bắt như vậy gọi là Ấn Tý.

 

Cách bắt Ấn Tý có ý nghĩa về sự tạo thành Trời Đất và Nhơn loại, theo quan niệm của người xưa ở đông phương:

Thời gian tạo thành Càn khôn vũ trụ và vạn vật được chia làm 12 khoảng, mỗi khoảng thời gian được gọi là Hội và đặt tên theo Thập nhị Địa chi: Hội Tý là Hội đầu tiên, kế đến Hội Sửu, sau đó là Hội Dần, v..v. . .

   Thiên khai ư Tý: Trời mở ra ở hội Tý.

   Địa tịch ư Sửu:  Đất mở ra ở hội Sửu (Tịch là mở).

   Nhơn sanh ư Dần: Người sanh ra ở hội Dần.

Các hội tiếp theo là sự tiến hóa của Trời, Đất, Người và vạn vật đến chỗ hoàn hảo.




Ấn Tý là ấn đặc biệt của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Đức Chí Tôn đặt ra. Cho nên trong thời ĐĐTKPĐ, mỗi khi lạy, chúng ta đều phải bắt Ấn Tý, trong tất cả các trường hợp, dù đó là lạy Đức Chí Tôn, Đức Phật Mẫu, lạy các Đấng Thần Thánh Tiên Phật, hay lạy Cửu Huyền Thất Tổ, lạy Vong phàm.

 

*Lưu ý đặc biệt:

GIỮ LUẬT ĐẠO KHI VÀO HIẾN LỄ ĐỨC CHÍ TÔN.

(Trích thông tri số 5/NCPS/TT của Hội Thánh ấn ký ban hành ngày 6 tháng 2 Tân Hợi / Dl. 02-3-1971).

“Phần đông Chức sắc, Chức việc và bổn đạo, khi vào Đền Thánh hiến lễ Đức Chí Tôn, không giữ đúng theo luật Đạo như sau:

“Bắt Ấn Tý không trúng, có người ngón tay mặt gát ngang bàn tay trái, có người thọc sâu trong lòng bàn tay trái, như vậy là bấm không đúng chỗ như trong Kinh Lễ đã chỉ dẫn. Khi bắt Ấn Tý không để trên ngực, lại bỏ xuôi xuống chơn và khi lạy đưa tay khỏi đầu. Lại nữa, khi Nhạc Tấu Quân Thiên, đứng không yên, lại còn nói chuyện, làm mất vẻ tôn nghiêm trong thời cúng, thất lễ với Đức Chí Tôn”
Hội Thánh nhận thấy việc bắt Ấn Tý là trọng hệ giữa “Thể Pháp” và “Bí Pháp” cho người hành lễ đặng hưởng mầu nhiệm cùng chăng là do ấn chứng đúng Pháp; bởi cớ nên Đức Chí Tôn có dạy trong “Thánh Ngôn” và Hội Thánh cũng đã ấn định rõ ràng trong Kinh Lễ.

Để nghiêm chỉnh giữ đúng Ấn Pháp nhứt luật và sự tôn nghiêm trong giờ hành lễ, hầu tránh thất lễ với Đức Chí Tôn cùng các Đấng Thiêng Liêng nên Hội Thánh quyết định triệt để thi hành các khoản sau đây:

 

1)- Phần bắt Ấn Tý cúng Thầy phải giữ đúng theo lời dạy của Đức Chí Tôn và Hội Thánh, nghĩa là ngón tay cái trái bấm vào Ấn Tý rồi nắm lại, bàn tay mặt áp ngoài, ngón cái tay mặt bấm vào ấn Dần, chớ không được gát ngang qua ngón trỏ bàn tay trái hoặc thọc sâu bên trong lòng bàn tay trái, là trái Pháp. Bởi Thiên khai ư Tý, Địa Tịch ư Sửu, Nhơn Sanh ư Dần, đó là “Bí Pháp” của Đức Chí Tôn vậy.

2)- Khi bắt Ấn Tý luôn luôn phải để ngay ngực tức là để tại Tâm, không được xuôi xuống chơn hay rún và khi lạy phải đưa tay lên chí trán, chẳng nên đưa khỏi đầu hoặc thấp hơn.

 

B. CÁCH LẠY VÀ XÁ:

Lạy là gì ?

Lạy là tỏ ra bề ngoài lễ kỉnh trong lòng.

Tay trái tượng trưng Dương, tay mặt tượng trưng Âm, hai tay chấp lại tượng trưng Âm Dương hiệp nhứt phát khởi Càn khôn, hóa sanh vạn vật.

Hai tay chấp lại bắt theo Ấn Tý tạo hình như một trái cây, tượng trưng sự kết quả của hai thời kỳ Phổ Độ trước là: Nhứt Kỳ Phổ Độ và Nhị Kỳ Phổ Độ.

- Thời Nhứt Kỳ Phổ Độ: Đức Thái Thượng Đạo Tổ dạy cách bắt tay:

Bàn tay trái nắm lại, ngón cái để ngoài, bàn tay mặt ốp vào bên ngoài, hai ngón cái đặt song song sát nhau, giống như cái bông búp. Khi lạy thì đứng chấp tay nơi ngực, cúi người xuống thấp, hai bàn tay chống lên đất, hai đầu gối lần lượt quì xuống, cúi đầu gần sát đất. Xong rồi rút hai tay lên, kế chống một gối, đặt hai tay lên gối rồi đứng dậy. Lạy như vậy gọi là phủ phục.

- Thời Nhị Kỳ Phổ Độ: Đức Phật Thích Ca dạy cách bắt tay và lạy như sau:

Hai bàn tay xòe ra và chấp lại cho hai lòng bàn tay ốp sát vào nhau, giống như cái hoa sắp nở, khi lạy thì cúi người xuống thấp, mở hai bàn tay ra đặt ngửa trên mặt đất, giống như cái hoa nở (gọi là hoa khai), cúi đầu xuống cho trán chạm vào lòng hai bàn tay, xong rút tay lên chấp lại như cũ và đứng dậy.

- Thời Tam Kỳ Phổ Độ: Đức Chí Tôn dạy chúng ta chấp hai tay bắt Ấn Tý, giống như trái cây có cái hột bên trong (gọi là kiết quả), quì xuống, cúi đầu và mở hai bàn tay ra đặt úp lên mặt đất, hai ngón tay cái gác tréo nhau (Hình 5), giống như chúng ta gieo hột giống xuống đất, trán cúi xuống chạm nhẹ lên mô bàn tay, rồi cất người lên.

Tóm lại, Ấn Tý của Đạo Cao Đài có hai ý nghĩa:

* Một là biểu thị ba thời kỳ đầu tiên tạo dựng CKVT (gồm Trời, Đất, Người) của Đức Chí Tôn Thượng Đế.

* Hai là tượng trưng sự kết quả của hai thời kỳ Phổ Độ trước (Nhứt Kỳ Phổ Độ và Nhị Kỳ Phổ Độ).

CÁCH XÁ:  

Khi đứng xá, hai tay bắt Ấn Tý, đưa lên trán, ý nghĩa là kỉnh Thiên (Trời), xá sâu xuống, ý nghĩa là kỉnh Địa (Đất), rồi rút Ấn Tý lên đặt nơi ngực, ý nghĩa là kỉnh Nhơn (Người). Xá như vậy nhắc chúng ta kính Tam Tài: Thiên, Địa, Nhơn.

Chỉ xá trước khi lạy và sau khi lạy xong, phải xá sâu xuống. Lưu ý là giữa hai lạy, không có xá nhỏ xen vào.

1/- Cách lạy Đức Chí Tôn:

a- Đứng thẳng người, mặt hướng vào Thiên Bàn, tay bắt Ấn Tý, xá sâu 3 xá, quì xuống (chân trái bước tới, chân phải quì xuống, chân trái quì theo), đặt Ấn Tý trước ngực.

 

b- Lấy dấu Phật Pháp Tăng:

- Đưa Ấn Tý lên giữa trán niệm: Nam mô Phật.

- Đưa qua màng tang trái, niệm: Nam mô Pháp.

- Đưa qua màng tang mặt, niệm: Nam mô Tăng.

(Khi đưa Ấn Tý qua Pháp hay qua Tăng, nhớ giữ cái đầu luôn luôn thẳng đứng, đừng nghiêng đầu qua nghiêng đầu lại)

c- Đưa Ấn Tý xuống đặt giữa ngực, cúi đầu và niệm:

  -Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát.

  -Nam mô Quan Thế Âm Bồ Tát Ma Ha Tát.

  -Nam mô Lý Đại Tiên Trưởng kiêm Giáo Tông ĐĐTKPĐ

  -Nam mô Hiệp Thiên Đại Đế Quan Thánh Đế Quân.

  -Nam mô chư Phật chư Tiên chư Thánh chư Thần.

d- Đưa Ấn Tý lên giữa trán cầu nguyện Đức Chí Tôn.

        e- Lạy:

Lạy xuống lần thứ nhứt: Nhớ hai bàn tay mở ra úp xuống, hai ngón cái gác tréo nhau (như Hình 5), đầu gật xuống: 

-Gật thứ 1 niệm: Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát

-Gật thứ 2: cũng niệm y như vậy

-Gật thứ 3: cũng niệm y như vậy

-Gật thứ 4: cũng niệm y như vậy

Xong rồi cất mình lên, vẫn quì.

* Lạy xuống lần thứ nhì: Lần lượt gật 4 gật, mỗi gật cũng niệm câu Chú của Thầy y như vậy.

* Lạy xuống lần thứ ba: Làm y như lần lạy thứ nhì.

 

Như vậy, có 3 lần lạy (tức là lạy 3 lạy), mỗi lạy gật đầu 4 gật, mỗi gật niệm “Nam mô Cao Đài Tiên Ông Đại Bồ Tát Ma Ha Tát”.

Câu niệm đó gọi là câu Chú của Thầy. Tổng cộng lạy 3 lạy, 12 gật, 12 lần niệm.

 

* Lạy xong, đứng dậy, xá sâu xuống 3 xá.

Nếu nơi Thánh Thất thì có bàn thờ Đức Hộ Pháp, phải quay lại, xá chữ KHÍ 1 xá.

Nếu không phải nơi Thánh Thất, không có bàn thờ Đức Hộ Pháp và chữ KHÍ thì khỏi quay lại xá. Xong lui ra.

Thật ra, phải lạy Đức Chí Tôn 12 lạy, nhưng Đức Chí Tôn ân xá, chỉ cho lạy 3 lạy và 12 gật, mỗi gật thay thế một lạy.  Số 12 là số riêng đặc biệt của Đức Chí Tôn.

 

* Lưu ý: Nhận thấy có một vài vị, khi lạy xong, cất mình lên, rút tay bắt Ấn Tý đặt lên ngực, lại xá nhỏ xuống một cái. Cái xá nhỏ nầy thừa.

 

2/- Cách lạy Đức Phật Mẫu:

Khi đến Điện Thờ Phật Mẫu, chúng ta vào Chánh điện, đứng thẳng người hướng vào Bàn thờ Đức Phật Mẫu, tay bắt Ấn Tý, xá sâu 3 xá vừa cúi đầu, rồi quì xuống.

- Đưa Ấn Tý lên trán, xá sâu xuống một xá, vừa xá vừa niệm: “Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn”.

-  Rút Ấn Tý đặt trở lên ngực, rồi đưa lên trán, xá sâu xuống lần thứ nhì, vừa xá vừa niệm: “Nam mô Cửu vị Tiên Nương”.

-  Xá sâu xuống lần thứ ba, vừa xá vừa niệm: “Nam mô Bạch Vân Động chư Thánh”.

-  Đưa Ấn Tý lên trán cầu nguyện với Đức Phật Mẫu

-  Lạy xuống 3 lạy, mỗi lạy 3 gật, mỗi gật niệm: “Nam mô Diêu Trì Kim Mẫu Vô Cực Thiên Tôn”

 

Như vậy, lạy 3 lạy, 9 gật, 9 lần niệm danh hiệu của Đức Phật Mẫu.

Lạy xong đứng dậy, xá 3 xá, day ngược ra sau, xá cái phông màu trắng 1 xá. (1)

Cái phông ấy tượng trưng Khí Sanh quang mà Đức Phật Mẫu dùng để nuôi sống chúng ta.

Xá xong lui ra.

--------------------

(1) Điều chỉnh theo Thông báo số 01/QT ngày 29-1-2013:
    Nay điều chỉnh lại:
    " . . . .Lạy xong đứng dậy, xá 3 xá, day ngược ra sau xá 1 xá, ý nghĩa là xá KHÍ SANH QUANG tức là nguồn cội của        Pháp biến sanh vạn vật".  Xá xong lui ra. (Xem chi tiết Thông báo kèm)

 ---------------------

3/- Cách lạy Tiên, Phật:

Trước khi lạy, vào đứng, bắt Ấn Tý, xá 3 xá, rồi quì xuống, nếu có cầu nguyện chi thì đưa Ấn Tý lên trán cầu nguyện, xong lạy xuống 3 lạy, mỗi lạy gật 3 gật, mỗi gật niệm danh hiệu của Đấng ấy.

Thí dụ: Lạy Đức Phật Thích Ca thì niệm: “Nam mô Tây Phương Giáo Chủ Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn”.

Lạy Cửu vị Tiên Nương thì niệm: “Nam mô Cửu vị Tiên Nương”.

 

4/- Cách lạy Thần, Thánh:

Trước khi lạy, vào đứng, bắt Ấn Tý, xá 3 xá, rồi quì xuống, nếu có cầu nguyện chi thì đưa Ấn Tý lên trán cầu nguyện, xong lạy xuống 3 lạy trơn (không gật), mỗi lạy  niệm danh hiệu của Đấng ấy.

Thí dụ: Lạy Bạch Vân Động chư Thánh thì mỗi lạy niệm: “Nam mô Bạch Vân Động chư Thánh”.

Lạy Thần Hoàng Bổn Cảnh thì mỗi lạy niệm: “Nam mô Thần Hoàng Bổn Cảnh”.

 

5/- Cách lạy Cửu Huyền Thất Tổ:

Giống y như lạy Thần, Thánh, nghĩa là 3 lạy trơn, mỗi lạy niệm: Nam mô Cửu Huyền Thất Tổ.

 

6/- Cách lạy Vong phàm:

Vong phàm là vong linh của người phàm tục.

Người phàm tục là người chưa giác ngộ lẽ Đạo, chưa có tín ngưỡng Trời Phật hay tôn giáo, chưa tin tưởng con người có một linh hồn bất diệt.

Trong Pháp Chánh Truyền Chú Giải, phần Quyền hành của Chánh Phối Sư, người Phàm tục được định nghĩa như sau:

Pháp Chánh Truyền: “Kẻ ngoại giáo, Tả đạo Bàng môn, người vô đạo, riêng nắm quyền hành thế tục, nghịch cùng chơn lý chánh truyền, mượn thế lực phàm tục mà diệt lành dưỡng dữ, mê hoặc nhơn sanh, lưu luyến trần thế, trên không biết Trời, dưới không kỉnh Đất, lấy người làm lợi khí đặng vụ tất công danh, quyền quyền thế thế, chẳng kiêng nể luân hồi, ham vật chất hơn tinh thần, lấy vinh hoa của kiếp sanh làm sở nguyện, như thú vật, cây cỏ, sắt đá, chỉ biết sống mà không biết sống làm gì, còn không hay, mà mất cũng không biết.

Ấy là hạng Phàm, gọi là Đời đó vậy. “

Lạy Vong phàm gồm 4 lạy: 2 lạy quì và 2 lạy đứng, thực hành như sau:

Trước khi lạy, vào đứng, hai tay bắt Ấn Tý, xá 3 xá.

Quì xuống, nếu có cầu nguyện chi thì đưa Ấn Tý lên trán cầu nguyện, xong lạy xuống 2 lạy trơn (không gật). Hai lạy quì ý nghĩa là 1 lạy kính Thiên và 1 lạy kính Địa.

 

Xong rồi đứng lên, tay vẫn bắt Ấn Tý, cúi mình lạy xuống theo lối phủ phục, chống đầu gối đứng dậy, rồi lạy xuống như vậy một lần nữa.

Đó là 2 lạy đứng dành cho phần người, ý nghĩa là 1 lạy Âm và 1 lạy Dương. Xong thì xá 1 xá rồi  lui ra.

 

7/.- Cách lạy Chức sắc, Chức việc, Đạo hữu đã qui liễu:

Cách lạy tùy theo phẩm tước của vị Chức sắc ấy đối phẩm với hàng nào trong Cửu phẩm Thần Tiên.

a- Chức sắc đối phẩm Phật vị và Tiên vị: gồm  Đức Giáo Tông, Đức Chưởng Pháp, Nam Đầu Sư, Nữ Đầu Sư, Đức Hộ Pháp, Đức Thượng Phẩm, Đức Thượng Sanh, Thập nhị Thời Quân.

Lạy theo cách lạy Tiên, Phật, nghĩa là 3 lạy 9 gật, mỗi gật niệm danh của Chức sắc ấy.

Thí dụ: Lạy Đức Quyền Giáo Tông Lê Văn Trung thì niệm: Nam mô Đức Quyền Giáo Tông.

(Ở đây không dùng Thánh danh Thượng Trung Nhựt vì Thánh danh nầy là của phẩm Đầu Sư).

Lạy Bà Nữ Đầu Sư Hương Hiếu thì niệm: Nam mô Nữ Đầu Sư Hương Hiếu.

Lạy Đức Phạm Hộ Pháp thì niệm: Nam mô Tam Châu Bát Bộ Hộ Pháp Thiên Tôn.

Lạy Đức Cao Thượng Phẩm thì niệm: Nam mô Đức Cao Thượng Phẩm.

Lạy Ngài Khai Pháp Trần Duy Nghĩa thì niệm: Nam mô Trần Khai Pháp Chơn Quân ..v..v…

 

b- Chức sắc đối phẩm Thánh vị:

Đối phẩm hàng Thánh vị gồm các phẩm Chức sắc:

- Bên Cửu Trùng Đài, từ Chánh Phối Sư đổ xuống tới hàng Giáo Hữu,

- Bên Hiệp Thiên Đài, từ phẩm Tiếp Dẫn Đạo Nhơn đổ xuống tới Truyền Trạng,

- Bên Cơ Quan Phước Thiện thì từ phẩm Thánh Nhơn đổ xuống tới phẩm Chí Thiện,

- Và các phẩm Chức sắc tương đương trong các cơ quan khác của Đạo như: Bộ Nhạc, Ban Kiến Trúc, Ban Nhà Thuyền, Ban Thế Đạo, v..v ... 

Cách lạy giống y như lạy Thánh, nghĩa là 3 lạy trơn, mỗi lạy niệm phẩm tước và Thánh danh của vị ấy, nếu không có Thánh danh thì niệm Thế danh.

 

c- Lễ Sanh, Chức việc Bàn Trị Sự và Đạo hữu:

- Lễ Sanh và các phẩm Chức sắc tương đương được đối phẩm Thiên Thần, nên khi qui liễu, được lạy theo hàng Thần vị, nghĩa là 3 lạy trơn.

- Chức việc BTS gồm: Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự làm tròn nhiệm vụ thì được đối phẩm Nhơn Thần.

- Đạo hữu giữ tròn bổn phận và ăn đủ 10 ngày chay mỗi tháng được đối phẩm Địa Thần.

Các phẩm nầy và các phẩm tương đương khi qui liễu thì được lạy theo hàng Thần vị: 3 lạy trơn.

Điều nầy rất hợp lý, vì theo PCT: Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự, Thông Sự đối phẩm Nhơn Thần; Đạo hữu đối phẩm Địa Thần, nên các phẩm nầy đều thuộc Thần vị. . . .

 

PCT: (Trích trong Quyền hành Chánh Phối Sư)

“Trong Cửu Trùng Đài có Đầu Sư thì đối với phẩm Địa Tiên; Chưởng Pháp thì đối với phẩm Nhơn Tiên; Giáo Tông thì đối với phẩm Thiên Tiên; Tam Trấn Oai Nghiêm thay quyền Phật vị tại thế nầy. Ấy vậy, các Đấng ấy đối phẩm cùng các Đấng Trọn lành của Bát Quái Đài.

Giáo Tông giao quyền cho Đầu Sư, Đầu Sư lại phân quyền cho Chánh Phối Sư (Hay !) lập Đạo đặng độ rỗi nhơn sanh; cũng như Hộ Pháp giao quyền cho Thượng Sanh và Thượng Phẩm.

Còn Chánh Phối Sư và Phối Sư đối phẩm Thiên Thánh; Giáo Sư đối phẩm Nhơn Thánh; Giáo Hữu đối phẩm Địa Thánh; Lễ Sanh đối phẩm Thiên Thần; Chánh Trị Sự, Phó Trị Sự và Thông Sự đối phẩm Nhơn Thần, chư Tín đồ đối phẩm Địa Thần. (Hay !)        

Ấy vậy, các vị ấy đối phẩm vào hàng Thánh của Bát Quái Đài là cầm quyền lập Đạo.”

d- Chức sắc và Đạo hữu thất thệ, làm đám Tang theo cách Bạt Tiến:

Trong trường hợp nầy, dầu ở Phẩm cấp nào, chúng ta cũng lạy theo hàng Vong phàm, nghĩa là 2 lạy quì và 2 lạy đứng.

 . . . . . . . . . . . . . .

Chúng ta nhớ, trong tất cả cách lạy thời ĐĐTKPĐ, hai tay phải bắt Ấn Tý, vì Ấn Tý là ấn của ĐĐTKPĐ.

_________

CÂU HỎI THẢO LUẬN: (05 Câu)

        Câu 1- Tại sao lạy Lạy Tiên, lạy Phật thì chín lạy là tại sao?  Còn lạy Thầy mười hai lạy là tại sao?

  Câu 2- Ấn Tý là gì? Cách bắt ấn Tý như thế nào? Tạo sao phải bắt đúng Ấn Tý khi dự Đàn cúng?

Câu 3- Sự khác biệt giữa lạy và niệm Đức Chí Tôn và Phật Mẫu như thế nào?

Câu 4- Sự khác biệt giữa lạy và niệmTiên, Phật và Thần, Thánh như thế nào?

Câu 5- Cách lạy như thế nào đối với Chức sắc và Đạo hữu thất thệ?

HẾT


CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO ĐÀI HẢI NGOẠI

Chương Trình Cùng Học Giáo Lý

Bài 4:

ÍCH LỢI CỦA VIỆC CÚNG KIẾNG

( Trích “Bước Đầu Học Đạo” - Soạn giả: HT Nguyễn văn Hồng)

*    *   *

1- ĐỨC CHÍ TÔN CÓ DẠY RẰNG: 

Luôn dịp, Thầy nói cho các con biết:

Cúng Tứ Thời có ích cho các con lắm, chớ không phải ích chi cho Thầy.

Nếu cúng được thường thì lòng dạ nở nang, tứ chi luân chuyển, có nhiều khi tật bịnh tiêu diệt.” (TNST. Q1. B 39)

2- ĐỨC QUAN ÂM BỒ TÁT CŨNG GIÁNG CƠ DẠY RẰNG:

“Các em phải cúng kiếng thường.

1-      Một là tập cho chơn thần được gần gũi các Đấng thiêng liêng cho đặng sáng lạn.

2-      Hai là cầu khẩn với Đức Đại Từ Bi tha thứ tội tình cho các em và cả chúng sanh.

3-      Ba là có tế lễ thì tâm phải có cảm, cảm rồi mới ứng, ứng là lẽ tự nhiên.

4-      Bốn là tâm có cảm thì lòng bác ái mới mở rộng, mà nhứt là khiếu lương tri lương năng của các em cũng nhờ đó mà lần hồi thành ra mẫn huệ.

Các em nhớ à !”(TNHT 1 2 hợp nhứt, B 162)


3- THẤT NƯƠNG DIÊU TRÌ CUNG CŨNG CÓ DẠY RẰNG:

“Lễ bái thường hành Tâm Đạo khởi”.

Sự Thờ phượng hiến dâng cũng là hình thức để thể hiện lòng tôn kính, chớ không phải vì sự Thờ phượng hiến dâng ấy mà được độ rỗi an bài và siêu thoát.

Nếu trong nếp sống thường nhựt, bản thân mình không được trong sạch, lương thiện, hành động mình thất đức, lời nói bất nhơn, các đối xử mình tàn ác, thì dầu chay lạt suốt đời, cúng lạy Tứ thời hiến dâng lễ vật đầy chùa thất cũng không được sự hộ trì và cứu rỗi. .

 

Sự Lễ bái cúng lạy quì mọp, ngoài ý nghĩa trịnh trọng thi lễ với Phật Trời, lại còn có ý nghĩa câu thúc thân mình trong sự khó khăn để trừ bớt Nghiệp Thân.

Tịnh khẩu hoặc niệm Phật tụng Kinh để trừ bớt Nghiệp Khẩu.

Nhắm mắt tham thiền, hoặc ngó ngay vào Thiên Nhãn, hoặc ngọn nhang, ngọn đèn lưu ly là để trừ lần Nghiệp Nhãn.

Tham thiền định Ý, khép chặt tư tưởng suy nghĩ vẩn vơ phóng túng là để trừ lần Nghiệp Ý.

Thiền Định không chấp nhận mọi tiếng động vào tai là để trừ lần Nghiệp Nhĩ.

 

* TÓM LẠI: Tất cả những điều ấy là những phương pháp trợ giúp cho người tu hành được yên ổn trả dứt nghiệp cũ, không gây nghiệp mới và tạo thêm âm chất để làm vốn liếng sản nghiệp vô hình cho kiếp lai sanh hoặc cho bên kia thế giới.”

 

Chúng ta cúng lạy Đấng Thượng Đế là để nhớ tưởng và biết ơn Đấng đã sanh ra linh hồn ta và dùng khí Sanh Quang nuôi nấng linh hồn và Chơn thần của chúng ta.

Chúng ta cúng lạy các Đấng Tiên Phật là để nhớ tưởng tấm gương cao cả của các Đấng ấy đã hy sinh trọn đời lo cứu độ chúng sanh.

 

Chúng ta không nên cúng lạy với tinh thần vị kỷ, cầu lợi cho mình: Cúng Phật để cầu Phật ban ơn cho mình, cúng Tiên để cầu Tiên ban phước cho mình, mà nên cúng lạy với tinh thần tôn kính các bậc phi thường và nguyện noi gương các Đấng ấy.

 

Có người ngoại Đạo cho rằng:

Chúng ta Thờ phượng và cúng lạy một tấm giấy. Nói như thế thật là ngu muội đáng trách ! Bởi vì mỗi ngày các nhân viên của cơ quan nhà nước chào Quốc kỳ, cái chào đó không phải là chào một miếng vải màu, mà là chào cái tinh thần của Tổ quốc, cái Hồn nước của chúng ta, mà có biết bao người qua bao nhiêu thế hệ đã hy sinh để bảo vệ cái tinh thần ấy, cái linh hồn của Tổ quốc, của Dân tộc.

Khi cúng Đức Chí Tôn, chúng ta nhìn Thiên Nhãn vẽ trên tờ giấy, chúng ta không còn thấy tờ giấy nữa, mà chúng ta chỉ thấy một Đấng vô cùng cao cả, Đấng Cha lành Thiêng Liêng đầy tình thương yêu nhơn sanh và lúc nào cũng muốn cứu vớt nhơn sanh ra khỏi biển khổ trầm luân để trở về ở trong lòng Ngài.

 

Khi cúng Tứ Thời, chúng ta tụng Kinh thì cần phải học hỏi để hiểu ý nghĩa lời Kinh.

Với tấm lòng kính thành, hợp với sự hiểu biết ý nghĩa lời Kinh, làm cho tâm hồn ta yên lặng, bớt vọng động, bớt phóng tâm nghĩ quấy, để lần lần chúng ta kềm giữ cái Tâm, cái Ý, để sau cùng đạt được trạng thái định Ý, định Tâm.

 

Tụng Kinh cũng là để cho lời Kinh dạy cái Tâm của ta, vì các Kinh tụng đều là Tâm Kinh.

Mặt khác, khi chúng ta tụng Kinh thì những vong linh vô hình ở chung quanh chúng ta cũng được nghe Kinh, nhờ đó họ có thể sớm giác ngộ mà hưởng được ân huệ của các Đấng Thiêng Liêng, sớm cho đi tái kiếp.

_______________

 

* PHẦN CHÚ THÍCH

 

1)- Trích trong “LỜI PHÊ của ĐỨC HỘ PHÁP”.

Do theo Tờ của Chí Thiện Lê Văn Trường xin nghỉ cúng thời Tý vì già cả, bệnh hoạn.

Đức Hộ Pháp phê rằng:

“Hễ càng già lại càng cúng nhiều đặng dâng mạng căn số kiếp của mình cho Đức Chí Tôn định, ấy là bí mật giải thoát của Chí Tôn để nơi Cơ Tận Độ. Dầu đương giờ mình cúng mà chết trước mặt Người lại càng hay. Phải tuyên truyền cho ai ai cũng đều thấu đáo nghĩa lý Bí Pháp này. Khi đau ốm nằm dưỡng bịnh hễ nghe thời cúng là ngồi dậy dâng Tam Bửu cho Chí Tôn”.

HỘ PHÁP (Ấn Ký)

 

2)- ĐỨC HỘ PHÁP thuyết Đạo ngày 1 tháng 11 năm Mậu Tý (1948) trích đoạn:

“. . . buổi ăn của linh hồn là buổi ta vô Đền Thờ cúng đấy. Ta không thấy mùi của nó tức chưa hưởng được, tưởng vô Đền Thờ là bị luật buộc, không dè mỗi phen đi cúng tức là cho linh hồn ăn vậy.

Bần Đạo tưởng thấy trong trí cần phải buộc cả thảy đi cúng, vì trong thâm tâm Bần Đạo định cho mấy người chưa biết mùi của nó, cũng như kẻ nhà quê, đưa cho gói bánh nói thứ ăn chẳng đặng, rồi khi đã biết mùi rồi bán cả áo, cả quần mà mua ăn.

Giờ phút nầy phái Nữ chưa biết mùi ngon của món ăn cho linh hồn. Ngày giờ nào cả thảy biết mùi của nó, ngày giờ ấy có đến ít nữa với những kẻ biết hoặc đói khát dữ tợn kia mới biết ăn ngon.

 

Phàm đói cho lung ăn mới ngon. Nhưng coi chừng Bần Đạo khuyên một điều, đừng để quá đói mà chết đa. Hại thay, vật ăn của linh hồn có quyền năng Thiêng Liêng vô tận, giúp ta giải bày cái ác như là cởi áo, chớ không phải mặc chật như dính vào da, rồi ngày giờ thoát xác, tinh thần thế quyền Thiêng Liêng lột từ miếng đau đớn linh hồn chẳng biết bao nhiêu, chừng đó có ăn năn rồi biết sợ. . .

 

. . .Vì cớ nên, thời giờ nầy, thấy Bần Đạo bó buộc nghiêm khắc có lẽ những kẻ biếng nhác cũng phàn nàn lén lút. Ngày cuối cùng các bạn gặp mặt Bần Đạo nơi Thiêng Liêng Bần Đạo sẽ hỏi các bạn coi khi còn ở thế, Bần Đạo buộc cả thảy đi cúng là có tội hay có công.

Công hay tội ngày giờ ấy Bần Đạo hỏi rồi chúng ta sẽ có một tấn tuồng tâm lý ngộ nghĩnh với nhau vô cùng tận, chừng đó mới biết lẽ nên hư. . .”.

 

3)- “Cúng lạy nhiều có phước, khỏi tội chăng?”.

Trong Quyển “Giảng Đạo Yếu Ngôn” của tác giả Nguyễn văn Kinh (Hôi Thánh tái bản năm Canh Tuất 1970), tại Chương thứ 25 có luận giải về như sau:

 

"Chẳng phải cúng lạy nhiều mà có phước khỏi tội đặng".

Có phước khỏi tội là tại lòng người biết tu hành ngay thẳng hiền lành nhơn đức, thương người mến vật, bỏ các điều dữ, y theo luật Đạo, làm những điều lợi ích chung Trời Đất cùng người vật, thì là phương có phước khỏi tội đặng; chớ chẳng phải cúng lạy nhiều mà có phước khỏi tội đặng!

_____________

CÂU HỎI THẢO LUẬN: (04 Câu)

Câu 1- Cúng được thường thì có ích lợi cho chúng ta như thế nào?
Câu 2- Trong việc Cúng kiếng, hiểu như thế nào về “Tụng Kinh Cầu Lý”?
Câu 3- Theo Thánh giáo Bà Thất Nương Diêu Trì Cung, muốn được các Đấng Thiêng Liêng hộ trì và cứu rỗi thì song song với việc chay lạt, Cúng kiếng thường xuyên thì người Đạo phải tu sửa bản thân, lời nói, việc làm, cách cư xử như thế nào ?
Câu 4- Cúng lạy nhiều có phước, khỏi tội chăng?.

HẾT


TÀI LIỆU CHUYỂN ĐỢT III
( Bài 5 và Bài 6 / Đợt cuối )


                                                            CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO ĐÀI HẢI NGOẠI
                                                        Chương Trình Cùng Học Giáo Lý

 Bài 5:

BỔN PHẬN CỦA TÍN ĐỒ

(Trích Buớc đầu Học Đạo/ Phần Hành Chánh Đạo -  Soạn giả:  HT Nguyễn văn Hồng)

 

*Lời dẫn:

Điều thứ mười hai của Tân Luật có ghi rõ: Nhập môn rồi gọi là Tín đồ. Trong hàng Tín đồ có hai bực:

- Một bực còn ở thế, có vợ chồng làm ăn như người thường, song buộc phải giữ trai kỳ họăc 6 họăc 10 ngày trong tháng, phải giữ Ngũ Giái Cấm và phải tuân theo Thế Luật của Đại Đạo truyền bá. Bực này gọi là người giữ Đạo mà thôi; vào phẩm Hạ Thừa.

- Một bực đã giữ trường trai, giái sát và Tứ Đại Điều Qui, gọi là vào phẩm Thượng Thừa.

Ở đây, trong phạm vi của bài huớng dẫn, khái niệm tín đồ chỉ nguời có Đạo ở bậc Hạ Thừa mà thôi (Đạo Hữu)

Ban Nội dung Kính cáo.

 

*   *   *

 

Người tín đồ, tuy đã nhập môn vào Đạo Cao Đài, nhưng vẫn là một công dân của quốc gia, một thành viên của xã hội và của gia đình, nên người tín đồ Cao Đài phải có bổn phận trước hết là đối với quốc gia, đối với xã hội và sau đó là đối với gia đình. Đó là phần Nhơn Đạo.

Nhơn Đạo có lo tròn thì mới có thể tu hành cầu phần Thiên Đạo giải thoát.

Phần Nhơn Đạo của người tín đồ thì rất rõ ràng và có nhiều sách khai triển chi tiết, nhứt là các sách thuộc Nho giáo. Ở đây, trong phần nầy, xin nêu ra một số bổn phận của người Đạo hữu Cao Đài trong phạm vi tôn giáo.

 

Trong Tôn giáo Cao Đài, một Đạo hữu cần có các bổn phận căn bản sau đây:

 

1/- Phải tuân theo và gìn giữ Luật Pháp Chơn Truyền của Đại Đạo.

2/- Luôn luôn ghi nhớ lời Minh Thệ lúc Nhập môn cầu Đạo và giữ mình không được Thất Thệ.

3/- Phải tuân lời dạy của Hội Thánh và của Chức sắc bề trên.

4/- Phải ăn chay tối thiểu 10 ngày trong một tháng, gìn giữ Ngũ Giới Cấm và Tứ Đại Điều Qui theo Tân Luật.

5/- Phải năng Hầu Đàn tại Thánh Thất và cúng Tứ Thời tại tư gia.


“ Vào Đạo rồi chớ nên lầm tưởng rằng, nhà mình có lập Thiên bàn thờ Thượng Đế, mỗi bửa cúng Tứ Thời là đủ, cần chi phải đến Thánh Thất Hầu Đàn, vì ở đâu cũng Thầy vậy.

Nghĩ như thế rất sai. Thánh Thất là Nhà Thờ chung lập ra cho chư Đạo hữu tới ngày Sóc Vọng (mùng 1 và 15) tựu đến, trước là dâng Đại Lễ cúng Thầy, cùng nghe thuyết Pháp, sau nữa là có dịp cho mình hội hiệp nhau để luận bàn Đạo đức, cùng se chặt mối tương thân.

“Thánh Thất lại là nơi biểu hiệu nền chơn Đạo của Đấng Chí Tôn, do đó mà nhơn sanh mới biết cách hành Đạo cùng cách sắp đặt Đạo nghi niêm thức của mình ra thể nào, do đó mà Đạo dễ phổ thông. Cho nên ngày Sóc Vọng, chư Đạo hữu nơi nào cần đến Thánh Thất nơi đó Hầu Đàn cho đông đảo thì Đạo mới ra vẻ thạnh hành.

“ Nếu mỗi người cứ nói ở nhà cũng có Thầy, rồi nhà ai nấy cúng mãi, thì Thánh Thất tất phải bỏ không, ấy có phải là điều đại quan hệ cho nền Đạo lắm chăng ?

 

“Điều Lệ Hầu Đàn:

Cúng tế Trời Phật quí tại lòng thành kỉnh. Chư Đạo hữu nam nữ đến Hầu Đàn phải cho tinh khiết nghiêm trang.

“Vậy, trước khi đến Hầu Đàn, phải dọn mình cho sạch sẽ, hết lòng thành kính khẩn nguyện cùng Trời Phật. Đến Đàn rồi, phải giữ lễ nghi cho nghiêm trang. Trước khi chỉnh Đàn, không đặng ở trước Thiên Bàn mà giỡn cợt hay là nói điều chi hoại sự hay là khạc nhổ trong Đàn.  

“Dầu chỉnh Đàn rồi, dầu chưa chỉnh Đàn cũng vậy, nam nữ phải cho phân biệt thứ tự hẳn hòi, cứ trong ngó ra thì nam tả, nữ hữu, không được lộn xộn, không phép nói cười lả lơi, không đặng lời to tiếng nhỏ, không đặng phép đem chuyện người ngoài mà thuật lại, không đặng luận bàn quốc sự, không đặng đồn đãi điều chi huyễn hoặc, không đặng nhắc chuyện bất bình buổi trước mà cãi lẫy nhau, không đặng hơn thua rầy rà, không đặng nói chuyện của Đạo hữu vắng mặt, không đặng dùng lời quanh co soi bói nhau, không đặng giả ý nói chơi mà kỳ trung châm chích nhau, không đặng đem đến Đàn những sách vở chi khác hơn là sách vở mà Hội Thánh đã phê chuẩn.

“Khi nhập Đàn: Nhập Đàn phải khăn đen áo dài trắng, môn đệ của Đấng Chí Tôn thì sắc phục cứ tuân theo Thánh ý, mỗi người ai phải lo phận nấy, giữ cho khỏi vô lễ với Đấng Chí Tôn cùng chư Thần, Thánh, Tiên, Phật.

“Chỉnh Đàn rồi, phải phân hàng đứng hầu lẳng lặng, khi cúng phải cho đại tịnh.

“Những người uống rượu lỡ thì không nên nhập Đàn.

“Hầu Đàn thì thân thể phải cho tinh sạch, lòng dạ kỉnh thành. Việc tinh khiết cùng chẳng tinh khiết trong mình thì ai biết nấy, chớ người nào khác hơn mình thì không thể rõ đặng. Ai đến lỡ mà trong mình không tinh khiết thì chẳng khá nhập Đàn, e mang lỗi cùng Trời Phật.”  (Trích Phương Châm Hành Đạo của Đức Quyền Giáo Tông)

 

6/- Năng học tập, tìm hiểu cho thấu đáo Giáo Lý của Đạo qua (04) Quyển sách căn bản là:           

- Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.

- Thánh Ngôn Hiệp Tuyển.

- Pháp Chánh Truyền.

- Tân Luật.

Tại sao chúng ta phải học Đạo? Học Đạo để biết Đấng Thượng Đế là ai? Ta là ai? Tại sao chúng ta phải Tu?  Mục đích của đời sống con người là gì?..v. v. .

Trong các việc học thì học Đạo là khó khăn nhất, vì học chữ chỉ dùng trí não để lãnh hội, còn học Đạo thì dùng cả trí não và tâm hồn mới lãnh hội được.

 

Đạo hữu còn phải học tập thêm các Kinh Sách khác của Đạo để trau giồi kiến thức và nhờ đó được:

            - Củng cố và phát triển Đức Tin.

            - Từ bỏ mê tín, chỉ còn Chánh Tín.

            - Biệt phân Thiện ác, Chánh Tà.

“Sách Kinh Luật lệ trong Đạo chẳng khác nào ngọn đèn để soi tỏ bước đường cho người giữ Đạo.

“Người ít học cần năng đọc sách xem Kinh, một là mở mang kiến thức cho mình, hai là đặng rõ thông Đạo lý. Luật Đạo là qui tắc dọn sẵn để mọi người do theo mà hành Đạo cho có chuẩn thằng, cho khỏi phạm điều Giới Cấm.

Có người Nhập môn rồi mà không lo học hỏi theo Kinh sách, giữ mình theo Luật lệ, mỗi ngày chỉ cúng Tứ Thời là gọi đủ, rồi than phiền rằng: Vào Đạo rồi mà không thấy ai chỉ bày Tâm Pháp, Đạo lý chi hết. Than phiền như vậy rất sai lầm, vì số bổn Đạo vẫn hằng ức hằng triệu, ai hơi đâu chỉ biểu từ người. Thiên thơ sẵn, chơn Kinh sẵn, tại mình không thỉnh mà xem, để than phiền trái lẽ. Đó là phần người ít học.

Còn phần người trí thức, tuy mình tài cao trí rộng mặc dầu, chớ mới bước chơn vào cửa Đạo, không thế nào hiểu Đạo cho rành, mà dầu có hiểu thông Đạo lý đi nữa, cũng nên xem Kinh sách nào thuở nay mình chưa đọc đến, vì Kinh sách ấy có lẽ cũng giúp thêm kiến thức cho mình nhiều ít.

Vả lại, tuy mình tài trí mặc dầu, chớ mới vào Đạo, thế nào hiểu thấu Tôn chỉ cùng Luật pháp Đạo mầu cho rành rẽ. Ví dụ như một người thông minh kia sang đến xứ lạ nọ, muốn biết đường sá nơi ấy cần phải hỏi thăm người bổn thổ, chớ có đâu tự phụ rằng, mình là người thông thái, không cần chi phải hỏi han đến kẻ thường nhơn thiểu học.

“Việc Đạo cũng vậy, mình giỏi là giỏi về phương diện khác mà thôi, chớ mới vào cửa Đạo, tức cần phải hỏi Đạo nơi người thông Đạo trước mình, hoặc là học cứu nơi Kinh sách.

Đến khi rõ thông Đạo lý rành rẽ rồi, nhờ trí thức của mình ra công nghiên cứu thêm nữa, có lẽ mình sẽ trổi hơn người đã chỉ dẫn cho mình trước đó, rồi mình có thể trước tác ra nhiều sách vở có giá trị hơn sách vở mà mình đã xem trong buổi nhập môn cầu Đạo.

 

 7/-Phải xem Kinh sách thế nào ?

 “Kinh sách vẫn do các Ngài rõ thông Đạo lý soạn ra, song các bực ấy vốn cũng người phàm như mình, nên cũng có chỗ sai lầm sơ sót, vì vậy mà Kinh sách tự nơi mấy vị ấy soạn ra cũng có chỗ khuyết điểm sai lầm. (Xin chớ lầm tưởng rằng, Kinh điển xưa vẫn là của Thánh Tiên làm ra hết; dầu cho thiệt của Thánh Tiên đi nữa, chớ lúc soạn ra Kinh điển ấy, các Ngài vẫn cũng còn phàm thì tất phải còn lầm lạc).

“Vả lại, Kinh sách làm ra phải hạp thời tùy thế. Có nhiều quyển Kinh xưa, sách cũ đối với đời trước thì rất hạp thời, mà đối với đời nay lại có lắm điều không hạp. (Tác giả tức Đức Quyền Giáo Tông không trưng bằng cớ ra đây là không muốn kích bác đến Kinh sách nào cả).

 

“Vậy nên, muốn đọc Kinh sách nào cho được bổ ích, ta cần biết suy nghĩ nghiên cứu, khoản nào chánh lý thì để lòng, đoạn nào mờ hồ thì chớ nên tin vội, chỗ nào hạp theo thời thế thì nghe, khoản nào nghịch với tôn chỉ thì bỏ.

Chẳng nên quá tin nơi Kinh sách, chớ nên tưởng rằng, Kinh sách của Thánh Hiền làm ra cả thảy, nên dạy sao phải nghe nấy. Đọc sách như vậy thì nguy lắm đó !

“Kinh sách có chỗ đáng tin mà có chỗ cũng không nên tin. Nếu tin hết thì phải lầm lạc. Đọc Kinh sách mà không biết phân biệt điều nào hữu lý, điều nào phi lý; đọc Kinh sách mà tri thức không biết mở mang, tư tưởng không biết độ lượng, thành ra đã tốn công vô ích, lại còn làm nô lệ Kinh sách nữa. Như vậy, thà đừng đọc là hơn.

“Sách có câu: “Tận tín thư bất như vô thư ”, nghĩa là: Tin hết sách chẳng bằng không đọc sách.

“Thuở nay, nhiều người quá tin nơi Kinh sách điển xưa, cứ nhắm mắt tin theo từng chữ, nghe từng câu, rồi hiểu sái tin lầm, khổ tâm luyện Đạo. Than ôi ! Đã không ấn chứng thì chớ, lại còn hại đến tinh thần là khác.

“Ấy vậy, xem Kinh sách để rõ thông Đạo lý thì nên, chớ do theo đó mà luyện Đạo thì nguy lắm, vì hễ hiểu lầm một mảy thì cũng đủ hại cho châu thân.

“Muốn luyện Đạo cho ấn chứng, trước hết ta cần phải tu Âm chất và lập công bồi đức cho đầy đủ, đến khi công viên quả mãn rồi, một câu Tâm pháp Chơn truyền của Thầy ta là Đức Ngọc Hoàng Thượng Đế cũng đủ cho ta hiểu Đạo.

“Vả lại, Đức Thượng Đế có dạy rằng: “Kinh điển giúp đời siêu phàm nhập Thánh chẳng khác chi đũa ăn cơm. Chẳng có nó, kẻ ăn cơm bốc tay cũng ăn đặng ”.

“Ý Đấng Chí Tôn muốn nói như vầy: Kinh điển tỉ như đũa, luyện Đạo tỉ như ăn cơm. Người đủ âm chất Đạo đức, rõ thông Kinh điển thì luyện Đạo rất giản tiện, tỉ như người ăn cơm có đũa vậy. Còn người có đủ âm chất Đạo đức mà không rõ thông Kinh điển đi nữa, bất quá luyện Đạo khó một chút vậy thôi, thế nào luyện cũng thành đặng tỉ như kẻ ăn cơm, dầu không đũa, bốc ăn cũng xong vậy.

“Tóm lại, vào cửa Đạo rồi, bất kỳ Kinh xưa sách nay, thảy đều nên xem cho biết, song cần phải xét suy chiêm nghiệm, phân biệt giả chơn, thì đọc mới bổ ích.” 

(Trích trong Phương Châm Hành Đạo của Đức Quyền Giáo Tông)

 

8/- Bổn phận quan trọng nhứt là làm Công Quả.

Làm Công Quả là làm những công việc nơi cõi trần để hưởng cái kết quả ích lợi nơi cõi Thiêng Liêng.

Không phải chỉ có vô Thánh Thất hay Điện Thờ Phật Mẫu làm những công việc nơi đó mới gọi là Công Quả. Chúng ta phải hiểu cho rộng rãi hơn, nghĩa là làm tất cả công việc giúp đời, giúp người, nói chung là cứu khổ ban vui cho chúng sanh mà không nhận tiền thù lao với tấm lòng vui vẻ tự nguyện thì gọi là Công Quả.

Trong thời Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy, muốn đắc Đạo thành Tiên, Phật thì phải làm Công Quả.

Trong TNHT, Đức Chí Tôn xác định rằng:

“Người dưới thế nầy, muốn giàu có phải kiếm phương thế mà làm ra của; còn Thần, Thánh, Tiên, Phật muốn cho đắc Đạo phải có Công Quả.  Thầy đến độ rỗi các con là thành lập một Trường Công đức cho các con nên Đạo. Vậy đắc Đạo cùng chăng là tại nơi các con muốn cùng chẳng muốn. Nếu chẳng đi đến trường Thầy lập mà đoạt thủ địa vị mình thì chẳng đi nơi nào khác mà đắc Đạo bao giờ”.

 

9/- Người Đạo hữu, khi đi trên con đường Đạo, gặp phải nhiều khó khăn chướng ngại thì nên xin thọ Phép Giải Oan nơi vị Giáo Hữu Khâm Châu Đạo trong những ngày mùng 1 hay 15 tại Thánh Thất. Hiệu quả của Phép Giải Oan được nói rõ trong bài Kinh Giải Oan in trong quyển Kinh Thiên Đạo và Thế Đạo.

Ngoài ra, đối với con cháu thiếu nhi dưới 17 tuổi trong gia đình, nên đưa đến Thánh Thất thọ Lễ Tắm Thánh và xin cấp cho đứa nhỏ một Giấy Chứng Nhận Tắm Thánh. Giấy nầy có giá trị đối với đứa nhỏ như là Sớ Cầu Đạo của người Đạo hữu vậy.

Ý nghĩa của việc Tắm Thánh được nói rõ trong bài Kinh Tắm Thánh. Sự Tắm Thánh nầy còn có ý nghĩa là tẩy rửa chơn thần của đứa bé cho trong sạch để mở mang trí thông minh của nó, học hành mau tiến bộ.

 

(Lưu ý: Thanh niên đủ 18 tuổi mới được nhập môn cầu Đạo và được cấp giấy Sớ Cầu Đạo).

_______________

CÂU HỎI THẢO LUẬN: (06 Câu)

       Câu 1- Luật pháp Chơn truyền Đại Đạo nghĩa là gì ?

Câu 2- Tại sao phải năng hầu Đàn nơi Thánh Thất ?

Câu 3- Người tín đồ Đại Đạo cần phải năng học tập, tìm hiểu cho thấu đáo Giáo Lý của Đạo qua quyển sách căn bản nào ? Quyển nào được coi như là Hiến Pháp của Đạo ?

Câu 4- Nên xem Kinh sách như thế nào cho hữu ích?

Câu 5- Tân Luật qui định người tín đồ phải ăn chay tối thiểu 10 ngày trong tháng, đây là điều luật vô cùng quan trọng vì sao ?

Câu 6- Làm Công quả là làm gì ? Thái độ chúng ta khi làm Công quả nên như thế nào ?

      HẾT

CƠ QUAN ĐẠI DIỆN CAO ĐÀI HẢI NGOẠI
Chương Trình Cùng Học Giáo Lý 

Bài 6:

KHI VÔ ĐỀN THÁNH PHẢI BỎ HẾT PHÀM TÂM

(Ðức Hộ Pháp Thuyết Đạo tại Ðền Thánh, đêm 29 tháng Giêng năm Mậu Tý / 1948) 

*    *  

Hôm nay, Qua lên giảng giải là do đêm trước Truyền Trạng Ngọ đã giảng trong khi lãnh trách nhiệm thay quyền Tiếp Lễ Nhạc Quân, đứng trên ngó xuống thấy mấy em có cử chỉ do Tâm lý không được chững chạc và đúng theo nghiêm luật của Hội Thánh. Nhưng đó là bề ngoài chẳng nói chi, trọng hệ hơn hết là cái huyền vi bí mật của Ðền Thánh nầy, buộc lòng Qua phải lên giảng.

 

Mấy em có biết tương lai nền Chơn giáo nầy của mấy em là tạo Đại nghiệp gia đình cho một sắc dân gọi là Tân Dân của Chí Tôn, để nơi mặt thế nầy, là Thần Thông Nhơn. Mấy em kiếm hiểu hai tiếng Thần Thông, dầu không thấu lý mà nghe nói tiếng ấy cũng hiểu sự quan hệ của nó ra sao.

 

Ấy vậy, muốn tạo một tinh thần tới Thần Thông cho sắc dân Tân Dân của Chí Tôn đem đến mặt địa cầu nầy, do trong mấy em hiện tượng ra mà mấy em không tầm cái giống Thần Thông thì làm sao tạo Tân Dân ấy cho được. Cả huyền vi bí pháp của Chí Tôn để tạo Thần Thông Nhơn ấy, mắt mấy em nhìn thấy không biết hình ảnh thì làm sao đạt thành được.

 

Mấy em sẽ làm Cha, làm Mẹ của đám Thần Thông Nhơn ấy mà không có hột giống làm sao tạo hình cho đặng. Còn như Qua đây là Hộ Pháp khi lên Ngai đứng có mấy công chuyện mà quên trước quên sau, đó là buổi mới khai Ðạo. Còn mấy em dầu khó khăn đi nữa, nay Ðạo đã 22 năm mà còn quên thì không biết nói làm sao đặng.

Mấy em có thấy đâu khi vô Ðền Thánh, đền nầy gọi là Ðền Thánh, thì thế nào mấy em phải hiểu. Qua đứng trên Ngai lấy hết tư tưởng của mấy em cái giọng của mấy em cầu kinh Qua ôm hết dâng lên cho Ðức Chí Tôn, dâng đây, không phải là tiếng thường, ấy là cái Thiên thiều, Ngài hưởng rồi, Ngài trả lại cho mấy em cái Thiên tinh.

Có như vậy thì địa cầu nầy mới an tịnh, mới thái bình được. Mấy em ôi! Nếu Cúng mà giọng đọc...không đồng một nhịp nhàng thì mong gì cái thiều quang của Càn Khôn Vũ Trụ điềm tĩnh đặng an hưởng.

Qua đứng trên Ngai, Qua thấy trên Nê Hoàn Cung của mấy em, nếu định Tâm, thì có một hào quang xung lên đều đều, mọi người đều có cả hào quang đó, có một vị Phật ôm hết đem vào Bát Quái Ðài, hiệp với đạo hào quang trong quả Càn Khôn đoạn đem trở ra bao trùm chỗ ngồi của mấy em, mà mấy em không thấy được, cho nên khi mấy em hầu lễ, nếu biết hưởng cái ơn Thiêng Liêng ban cho đó, thì tinh thần được an tịnh, hạnh phúc biết bao, nếu biết thọ hưởng cái Hồng ân đó, cũng như lúc mấy em đói rồi có ai liệng cho đồ ăn, mà không biết hưởng, thì làm sao no đặng, tức phải đói.

Ðáng lẽ khi bước vô Bửu Ðiện, đi ngang qua Hiệp Thiên Ðài thấy toàn màu đỏ, màu đỏ thuộc về xác thịt, vậy đi qua rồi phải tịnh Tâm.

Qua không nói ai, vì trước mỗi buổi đều tắm rửa, vô đó, dầu hình thể của mấy em có nhơ nhớp, thúi hôi, cùi đày mà cái Tâm của mấy em trong sạch đó là Tâm vô tội. Dầu kẻ nào tội tình ưu lự thế mấy mà bước vô Ðền Thánh rồi, cũng phải tập tánh cho thanh khiết, bỏ cả những tư tưởng phàm tục, để Tâm Nhứt nguyện mới có sự hưởng ứng.

Mấy em đem cái hình xác vào Ðền Thánh, nhưng là cái xác vô tội, đặng hiến cho Chí Tôn. Nếu không vậy, thì có vào Ðền Thánh, kẻ ngồi chỗ nầy, kẻ ngồi chỗ kia mà trong óc không niệm, thì vô Ðền Thánh có ích gì?

Ði Cúng, điều trọng yếu nhứt là tinh thần, cái huyền vi Bí Pháp tinh thần ở đấy là CỬU TRÙNG ÐÀI rồi BÁT QUÁI ÐÀI thuộc về Chơn Linh, ấy là linh Tâm xuất hiện, nếu mấy em có Cảm mới có Ứng, mà nếu có Ứng, thì mấy em mới hưởng được, thảng không hưởng được là lỗi tại mấy em không trọn Tâm thành kính.

Thỉnh thoảng rồi Qua sẽ giải Bí pháp của Hộ Pháp đứng trên Ngai là gì? Mấy em không thấy cũng đáng trách. Vậy từ đây về sau, Qua chỉ xin mấy em một điều là hễ bước chân vô Ðền Thánh, thì phải bỏ hết cả Phàm Tâm, thì hạnh phúc sẽ to lớn, bằng chẳng vậy, đừng đi Cúng, vì đến Cúng, không những không hưởng được đặc ân, mà còn mang tội thêm mà chớ.

* LƯU Ý:

Thông Tri số 05/NCPS/TT của Hội Thánh ấn ký ban hành ngày 06 tháng 02 Tân Hợi (DL.02-3-1971) dạy Chức sắc, Chức việc và bổn Đạo, khi vào Đền Thánh hiến lễ Đức Chí Tôn, phải giữ đúng theo luật Đạo như sau:

“. . . . . . . . . . . . . . . . . . . . .

Trong khi còn đứng, Nhạc Tấu Quân Thiên thì phải giữ nghiêm trang, yên lặng, ngó ngay Thiên Nhãn ở Bát Quái Đài, tịnh Tâm tưởng niệm, cung nghinh Đức Chí Tôn, không được nói chuyện hoặc ngó qua, ngó lại để tỏ lòng tôn kính, tránh điều thất lễ; vì Đức Chí Tôn có dạy nơi “Thánh Ngôn” “như Đàn Nội chẳng nghiêm, Thầy không giáng”.

Ước mong chư Chức sắc, Chức việc và Bổn Đạo Nam Nữ lưu Tâm thực hành các điều khuyên nhắc trên đây, chẳng những giữ cho mình được hưởng nhiệm mầu của Ơn Trên bố hóa mà còn gìn nghiêm luật của nền Đại Đạo để khỏi thất Pháp. . .”.

Bài Tham khảo

THAM DỰ ĐÀN CÚNG NHƯ THẾ NÀO?

(Biên soạn: Hiền Tài Phạm văn Khảm)

 

Giống như một học sinh, sau một buổi học, ít nhất cũng còn lưu lại trong đầu óc vài kiến thức mới, vài điều hay lẽ phải cần phải noi theo để đến kỳ thi đạt được bảng vàng. Người tín đồ Cao Đài cũng vậy, mỗi thời Cúng là mỗi buổi học, mỗi trang Giáo lý là mỗi dìu dắt trên từng bước đi … để suốt cuộc đời sống với Đạo và cuối cùng đạt Đạo.

 

So sánh một thời Cúng như là một buổi học, như vậy trong thời Cúng chúng ta cần phải làm gì mới đạt được kết quả ?

 

Đức Hộ Pháp khẳng định: “Hễ bước chân vô Đền Thánh thì phải bỏ hết Phàm Tâm, bằng chẳng vậy thì đừng đi Cúng, vì đến Cúng không những không hưởng đặc ân mà còn mang tội thêm mà chớ.” (Thuyết Đạo 29-1-Mậu Tý /1948)

 

Sau đó Đức Hộ Pháp giải thích bỏ hết Phàm Tâm là làm sao?

Nghĩa là trước khi bước vô Bửu Điện, lúc đi ngang qua Hiệp Thiên Đài phải tịnh Tâm và dẹp bỏ hết Phàm Tâm.

Để dẹp bỏ Phàm Tâm, đầu tiên mấy em cần quên cái thân xác của mình:

Dẫu có nhơ nhớp, thúi hôi, cùi lỡ, xấu xí…nhưng cái Tâm trong sạch là Tâm vô tội.

Dẫu kẻ nào tội tình, ưu lự thế mấy mà bước vào Bửu Điện biết rủ bỏ hết để đổi lấy sự thanh khiết, từ bỏ những tư tưởng phàm tục… trọn Tâm nhứt nguyên …cũng có được Tâm vô tội.

Với cái Tâm vô tội, với cái thân xác dâng hiến cho Đức Chí Tôn, chúng ta tham dự thời Cúng, làm gì không đạt được kết quả tốt?

 

Kết quả tốt như thế nào?

 

Đức Hộ Pháp giảng như sau:

“ . . .Ði cúng, điều trọng yếu nhứt là tinh thần, cái huyền vi bí pháp tinh thần ở đấy là CỬU TRÙNG ÐÀI rồi BÁT QUÁI ÐÀI thuộc về Chơn Linh, ấy là linh tâm xuất hiện, nếu mấy em có cảm mới có ứng, mà nếu có ứng, thì mấy em mới hưởng được, thảng không hưởng được là lỗi tại mấy em không trọn tâm thành kính… .”

“ . . . .Mấy em có thấy đâu khi vô Ðền Thánh, đền nầy gọi là Ðền Thánh, thì thế nào mấy em phải hiểu. Qua đứng trên Ngai lấy hết tư tưởng của mấy em cái giọng của mấy em cầu kinh Qua ôm hết dâng lên cho Ðức Chí Tôn, dâng đây, không phải là tiếng thường, ấy là cái Thiên Thiều, Ngài hưởng rồi, Ngài trả lại cho mấy em cái Thiên Tinh. Có như vậy thì địa cầu nầy mới an tịnh, mới thái bình được.  . . .”

 

Thật vậy, Đức Hộ Pháp nói rõ là khi Ngài đứng trên Ngai, trong đàn Cúng, Qua thấy trên Nê Hoàn Cung của mấy em, nếu định Tâm, thì có một hào quang xung lên đều đều, mọi người đều có cả hào quang đó. Có một vị Phật ôm hết đem vào Bát Quái Đài hiệp với hào quang của Quả Càn Khôn đoạn đem trở ra bao trùm chỗ ngồi của mấy em mà mấy em không thấy được. Cho nên khi mấy em hầu lễ, nếu biết hưởng cái ơn Thiêng Liêng ban cho thì tinh thần được an tịnh.

Hạnh phúc thay cho những ai biết hưởng cái Hồng ân đó. Bằng không thì chẳng khác gì lúc mấy em đói, có người liệng cho đồ ăn mà không biết hưởng thì làm sao no đặng?

 

Để kết thúc bài nầy, chúng ta nên hằng quan Tâm đến lời dặn dò của Đức Hộ Pháp như sau:

“Vậy từ đây về sau, Qua chỉ xin mấy em một điều là hễ bước chân vô Đền Thánh thì phải bỏ hết cả Phàm Tâm thì hạnh phúc sẽ to lớn, bằng chẳng vậy đừng đi Cúng còn hơn”.

 

Ngoài ra, chúng ta cũng nên nhớ rằng, theo Bí Pháp Cao Đài, Đức Hộ Pháp là vị Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài nên lúc còn tại thế cũng như khi qui Thiên vẫn nắm trọn quyền Hành Pháp mỗi khi vô Cúng đàn. Ngai của Ngài trước chữ KHÍ đối diện với Thiên Bàn thờ Đức Chí Tôn .

Vậy trong các đàn Cúng, luôn luôn có Đức Ngài đứng trên Ngai sau lưng chúng ta và Ngài thường mong mỏi chúng ta:

“Làm người rõ thấu lý sâu,

Sửa lòng trong sạch tụng cầu Thánh Kinh”.

 

Để giúp Ngài hành pháp dễ dàng trong đàn Cúng và chúng ta cũng nhận được Ơn từ Đức Chí Tôn ban cho một cách trọn vẹn.

_______________

 

CÂU HỎI THẢO LUẬN: (04 Câu)

 Câu 1- Đức Hộ Pháp dạy vào Đền Thánh rồi phải bỏ cả những tư tưởng phàm tục, vậy chúng ta phải làm sao để bỏ cả tư tưởng phàm tục ?

 Câu 2- Nếu khi Cúng chúng ta để trọn tâm thành kính thì được hưởng hồng ân như thế nào ?

 Câu 3- Nếu vào Cúng mà không bỏ hết Phàm tâm thì có được hưởng ân huệ Thiêng Liêng không?

       Câu 4- Nếu Đàn Cúng không trang nghiêm thì có ảnh hưởng gì ?


  HẾT


CHẤM DỨT CHƯƠNG TRÌNH CÙNG HỌC GIÁO LÝ

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 


 

 

 

 



 

 

 

 
















Ċ
Web Admin,
Jan 22, 2013, 11:40 PM
Ċ
Web Admin,
Jan 22, 2013, 11:40 PM
Ċ
Web Admin,
Jan 22, 2013, 11:41 PM
Ċ
Web Admin,
Jan 30, 2013, 12:56 PM
Comments