Đạo Cao Đài trong dòng sinh hoạt chung của Dân Tộc

ĐẠO CAO ĐÀI

TRONG DÒNG SINH HOẠT CHUNG

CỦA DÂN TỘC VIỆT NAM

Tiến Sĩ Sử Học PHẠM CAO DƯƠNG

Bài phát biểu trong ngày lễ Giáng Sinh thứ 123 của Đức Hộ Pháp Phạm Công Tắc 23 tháng 6 năm 2012

_______________


Trước khi GS phát biểu, MC của buổi lễ Ngô thành Thảo xin trình bày sơ lược vài nét về GS Phạm cao Dương như sau:


Giáo Sư Phạm Cao Dương, Tiến Sĩ Sử Học Đại Học Paris, trước năm 1975 giảng dạy tại Đại Học Sư Phạm và Đại Học Văn Khoa Saigon, đồng thời là Giáo Sư Thỉnh Giảng tại các Đại Học Huế, Cần Thơ, Vạn Hạnh, Đà-Lạt, Cao Đài…Ngoài việc dạy học, GS Phạm Cao Dương còn là Hội Viên của các Hội Đồng Văn Hóa Giáo Dục, Hội Đồng Quốc Gia Khảo Cứu Khoa Học và Ủy Ban Điển Chế Văn Tự của Chính Phủ Việt Nam Cộng Hòa. Ngoài văn bằng Tiến Sĩ, ông còn có các văn bằng chuyền môn về Sử Học như Tốt Nghiệp Đại Học Sư Phạm, Cử Nhân Giáo Khoa Sử Học, Cao Học Sử Đại Học Văn Khoa Saigon.

Trong phạm vi khảo cứu, Giáo Sư Phạm Cao Dương là tác giả của nhiều công trình khảo cứu về lịch sử và văn hóa Việt Nam xuất bản bằng tiếng Việt, tiếng Pháp và tiếng Anh trong đó có các tác phẩm Thực Trạng của Giới Nông Dân Việt Nam Dưới Thời Pháp Thuộc do Nhà Khai Trí xuất bản năm 1967 với bản tiếng Anh nhan đề Vietnamese Peasants Under French Domination, do Trung Tâm Nam và Đông Nam Á, Đại Học Berkeley và University Press of America ấn hành năm 1985 cùng nhiều sách giáo khoa cũng như nhiều bài khảo cứu về lịch sử và văn hóa Việt Nam khác, trong đó có bộ Lịch Sử Các Nền Văn Minh Thế Giới gồm nhiều tập xuất bản trước năm 1985. Giáo Sư Dương cũng từng là cộng tác viên của Trung Tâm Nghiên Cứu Nam và Đông Nam Á của Đại Học Berkeley Hoa Kỳ và Trung Tâm Quốc Gia Khảo Cứu Khoa Học Pháp.

Sau năm 1975, ông định cư tại Hoa Kỳ và tiếp tục hoạt động trong các ngành giáo dục và nghiên cứu. Ông đã từng giảng dạy các môn về lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ Việt  Nam Học tại các Đại Học UCI, UCLA, CSU Long Beach, CSU Fullerton, đặc biệt là UCLA nơi ông vẫn còn giảng dạy hàng năm vào mùa xuân mặc dầu ông đã bắt đầu đứng lớp từ năm 1958, tức từ hơn nửa thế kỷ trước đây, liên tục cho đến tận ngày hôm nay, tổng cộng 54 năm.

Giáo Sư Phạm Cao Dương cũng  hoạt động rất tích cực trong các sinh hoạt của cộng đồng và là một diễn giả quen thuộc của nhiều hội đoàn của người Việt ở nhiều nơi ở Hoa Kỳ cũng như trên các đài phát thanh và truyền hình quốc tế trong đó có các đài BBC, Á Châu Tự Do (RFA) và Quốc Tế Pháp (RFI).

Hiện nay ông phụ trách chương trình Đại Họa Mất Nước của Đài Truyền Hình SBTN ở Hoa Kỳ.

(Hết Lời Giới Thiệu)

___________________________

Cách đây non 4 năm, ngày 9 tháng 11 năm 2008, nhân Đại Lễ Kỷ Niệm 84 năm Khai Đạo của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, cũng trong Hội Trường nầy, tôi đã được vinh dự được phát biểu về Đạo Cao Đài sau non một thế kỷ nhìn lại. Bốn năm đã trôi qua, một cách tổng quát, nhận định của tôi không có gì thay đổi vì đó cũng là cái nhận định chung của tất cả mọi người. Tôi xin được nhắc lại thế nầy:

Sự xuất hiện của Đạo Cao Đài hay đúng hơn của Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ trong thập niên 1920 của thế kỷ trước, thế kỷ 20 không phải chỉ là một sự kiện quan trọng trong lịch sử Việt Nam hiện đại mà còn là một hiện tượng đặc biệt mà những ai nghiên cứu về Việt Nam trong giai đoạn nầy cần phải chú trọng.

Lý do là vì chỉ trong một thời gian ngắn sau khi được khai Đạo, Đạo Cao Đài đã phát triển vô cùng nhanh chóng. Từ con số vài ba trăm ngàn tín đồ của thời gian  trước thế chiến thứ II, số người theo đạo nầy đã vượt lên trên một triệu và trên 3 triệu trong hiện tại, dù cho đó chỉ là những con số ước lượng cần phải được nghiên cứu, điều chỉnh cho chính xác hơn. Nhưng không phải chỉ có thế, Đạo Cao Đài đã chứng tỏ được sự có mặt của mình ở rất nhiều nơi với những Thánh Thất mang một màu sắc và những đường nét kiến trúc hoàn toàn riêng biệt, khác với tất cả các tôn giác khác, bắt đầu là ở Việt Nam và bây giờ ở khắp nơi trên thế giới.

Lối kiến trúc đặc biệt nầy đã khiến cho các Thánh Thất Cao Đài được lựa chọn như là một biểu tượng của Văn Hóa Việt Nam với những hình ảnh được in trên các sách và các tài liệu hướng dẫn du lịch kèm theo với hình ảnh các Chức sắc Cao Đài trong sắc phục màu trắng thường nhật hay nhiều màu rực rỡ trong những ngày đại lễ.

Vượt ra khỏi phạm vi tôn giáo thuần túy, trong sinh hoạt chính trị, xã hội, Cao Đài đã tham gia tích cực vào sinh hoạt chung của dân tộc, đúng như truyền thống của người Việt từ những ngày đầu lập quốc, và tên tuổi của Cao Đài luôn luôn đi với Hòa Hảo, một đặc thù khác của Văn hóa miền Nam, tôn giáo bạn xuất hiện đồng thời với mình.Nói tới Cao Đài , người ta không khỏi không nghĩ tới Hòa Hảo và ngược lại nói tới Hòa Hảo người ta không khỏi không nghĩ tới Cao Đài, hai tôn giáo lớn đã đóng những vai trò quan trọng trong sinh hoạt của Miền Nam trong hậu bán của thế kỷ 20 và chắc chắn còn rất lâu hơn nữa, nếu không nói là mãi mãi về sau nầy ở Việt Nam cũng như ở khắp nơi trên thế giới, ở bất cứ nơi nào có đông người Việt Nam cư ngụ.

Nhận định nầy phải nói ngay chỉ là tổng quát và phần nào chỉ là những hình thức biểu kiến, bề ngoài. Hôm nay tôi muốn đi sâu hơn, vào chi tiết hơn một chút để nhìn Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ như là một tôn giáo trong dòng sinh hoạt chung của cả dân tộc Việt Nam từ những ngày đầu của thời độc lập. Đi xa hơn một chút, có 3 nhận định căn bản tôi muốn được nêu lên để kính trình cùng quí vị. Ba nhận định đó là:

Thứ Nhất: Tôn giáo Cao Đài là một sự tiếp nối và hoàn thiện chủ trương và ước vọng của người Việt của các thời Lý Trần và những thời kỳ sau đó trong lịch sử Việt Nam.

Thứ Hai: Tôn giáo Cao Đài đã góp phần tích cực  vào những vận động giành độc lập cho đất nước, tự do hạnh phúc cho dân tộc  Việt Nam ngay từ những ngày đầu khai Đạo cho đến tận ngày nay.

Thứ Ba: Với Tam Giáo Qui Nguyên và Ngũ Chi Phục Nhứt, Cao Đài sẽ là nơi người ta sẽ tìm hiểu những tôn giáo, đặc biệt là Khổng giáo, một thời phát triển và thịnh hành trên đất nước Việt Nam nay chỉ còn một vai trò mờ nhạt.

Vì thời gian có hạn, tôi xin trình bày nhận định thứ nhất.

I- Nhận định thứ nhất: Tôn giáo Cao Đài tiếp nối, bổ khuyết và hoàn thiện nhận định, chủ trương và ước vọng của người Việt ngót từ ngàn năm trước.

Chủ trương coi trọng cả ba Giáo: Phật, Khổng, Đạo của vua quan hai triều Lý Trần là điều bất cứ học sinh nào cũng có dịp hoc, kể cả ở bậc Tiểu học. Các vua nhà Lý, ngoài việc xây chùa, lập Văn Miếu, lập các Đạo Quán… còn mở các khoa thi Tam giáo, còn làm thơ viết văn ca tụng các nhân vật của các Đạo nầy, chẳng hạn như vua Lý Nhân Tông ca tụng Thiền Sư Giác Hải và Thông Huyền Đạo Nhơn bằng bốn câu thơ sau đây:

         Giác hải tâm như hải

         Thông huyền đạo hựu huyền,

         Thần thông năng biến hóa.

         Nhất Phật nhất Thần Tiên.

 Dịch:

         Giác Hải lòng như biển,

         Thông Huyền phép rất mầu,

         Thần thông và biến hóa,

         Tiên Phật khác chi đâu.

(Bản dịch của Ngô Tất Tố, trong Văn học đời Lý, tr .46 )

Ta cũng cần để ý là giới trí thức ở thời nầy đa số đều làu thông cả ba giáo. Các Thiền Sư trước khi tu Phật đều đã từng theo đòi Nho học. Có điều Tam giáo vẫn là Tam giáo. Nho Phật Lão vẫn là ba nguồn tư tưởng riêng biệt với những vai trò riêng biệt mà vua Trần Thái Tông trong bài Tựa của tác phẩm Thần Tông Chỉ Nam đã chỉ rõ.

Nhà vua viết: “Những việc dẫn dụ bọn hôn mê, chỉ rõ đường sinh tử, tức là đại giáo của Phật Tổ… đặt cân mực cho hậu thế, làm khuôn mẫu cho tương lai, thì là trọng trách  của Tiên Thánh. Bởi vậy Lục Tổ có nói: Tiên Thánh và Đại sư không khác gì nhau.  Coi đó thì biết đạo giáo của Phật Tổ còn phải mượn sức của Tiên Thánh mới truyền bá được với đời. Như vậy trẫm nay sao lại có thể không lấy trách nhiệm của Tiên Thánh làm trách nhiệm của mình, giáo hóa của Phật Tổ làm giáo hóa của mình được.” (Bản dịch của Ngô Tất Tố trong Văn Học đời Trần tr.55-56 )

Người ta có thể nói rằng nhận định của Trần Thái Tông chỉ là nhận định của một nhà cai trị, nhận định mang nhiều tính thế tục hơn là tôn giáo. Nhưng trở về thời nhà Lý trước đó, vai trò khác biệt của mỗi đạo cũng được nêu rõ qua bốn câu thơ của Viên Chiếu Thiền Sư Mai Trực (999- 1091) trích trong Tham Đồ Hiền Quyết sau đây cũng nói lên sự phân biệt nầy. Bốn câu thơ đó là:

Ly hạ trùng dương cúc,

Chi đầu thục khi oanh,

Trúc tắc kim ô chiếu.

Dạ lại ngọc thố minh.

   Dịch:

         Trùng dương đến, cúc vàng dưới giậu,

         Xuân ấm về, oanh náu đầu cành.

         Ngày vầng ô chiếu,

         Đêm bóng thỏ rạng soi.

   (Huệ Chi- Băng Thanh dịch trong thơ văn đời Lý tr 127)

Ví phân biệt nặng về tư tưởng hơn là về tôn giáo trong bản chất và vai trò của ba giáo trong những thế kỷ đầu của thời độc lập trong lịch sử Việt Nam nầy mới có những biến chuyển lớn lao làm thay đổi cả vận mệnh dân tộc trong những thế kỷ kế tiếp.Phật giáo đã mất đi vai trò lãnh đạo ban đầu nhường chỗ cho Khổng giáo từ cuối đời nhà Trần, rồi từ giữa thế kỷ thứ XIX, các nhà Nho theo Khổng giáo lại bất lực không thích ứng được với hoàn cảnh mới, một giai đoạn mới lại bắt đầu. Chính trong thời gian nầy Cao Đài giáo lại xuất hiện với chủ trương Tam Giáo Qui Nguyên và Phục Nhứt Ngũ Chi. Nói theo cách khác: Vạn vật Đồng Nhất Thể với một Vũ Trụ Quan bắt nguồn từ sự hiện của một Đấng Chí Tôn, của Thiên Nhãn… với lời Thánh giáo như:

“Khai Thiên Địa cũng Thầy, sanh Tiên Phật cũng Thầy. Thầy đã nói một Chơn Thần mà biến Càn Khôn thế giới và cả Nhơn loại. Thầy là Chư Phật, Chư Phật là Thầy.”

“Ngày Thầy đến đây đem ba nền tôn giáo hợp nhất lại tạo một tòa lớn lao để đời đời kiếp kiếp cho nhơn sinh nương vào đó mà lánh cơn nạn khổ thảm sầu, nhưng Thầy cũng vì lòng từ bi, chọn lựa cái nào còn dùng đặng thì Thầy lấy, cái nào hư nát bỏ ra.”

Điều đáng tiếc là khi tìm hiểu về đạo Cao Đài, người ta thường chú trọng nhiều hơn về những khía cạnh chính trị, kinh tế và xã hội hơn là là về khía cạnh tôn giáo chưa kể ngôn ngữ đặc thù của Cao Đài và của người Việt Miền Nam. Chính vì vậy người ta đã phạm phải những điều sai lạc hay những ngộ nhận, từ đó những thành kiến lẽ ra không nên có đối với một tôn giáo. Chẳng hạn như trong các sách viết về Việt Nam trong hậu bán thế kỷ trước thế kỷ hai mươi. Cao Đài cũng như Hòa Hảo thường được gọi và chỉ được coi như là những giáo phái, secte trong tiếng Pháp hay sect trong tiếng Anh và nhiều người kể cả các nhà nghiên cứu đã coi Cao Đài như là một sự hỗn tập các tôn giáo đã tồn tại từ lâu trên đất nước Việt Nam và những tôn giáo mới du nhập vào nước ta không lâu trước đó. Cao Đài theo họ chỉ là một thứ religious syncretism trong tiến Anh hay syncrétisme religieux trong tiếng Pháp, tiếng Việt có thể dịch là một sự hỗn tạp, một sự hỗn tạp các tôn giáo, các tín ngưỡng và những lễ nghi tập tục của những tôn giáo, một sự “xào xáo” lại giáo lý Tam giáo đã có từ trước, chưa nói tới hai chữ “hồ lốn” của một tác giả của một cuốn từ điển Anh Việt.

Một trường họp điển hình là Jayne Werner, trong luận án Tiến sĩ về đạo Cao Đài của mình, Bà đã dùng tĩnh từ syncretic dẫn xuất từ danh từ ngày nay trong nhan đề của công trình nghiên cứu của mình..Nhan đề The Cao Dai: The Politics of A Vietnamese Syncretic Religious Movement, Đây là một điều ngộ nhận vô cùng quan trọng trong việc tìm hiểu về đạo Cao Đài mà Giáo sư Lạp Chúc Nguyễn Huy, trước năn 1975 giảng dạy môn Địa lý tại Đại Học Văn Khoa Saigon, sau nầy là chuyên viên khảo cứu tại Đại Học Laval, Québec, Gia Nã Đại đã nêu lên trong tác phẩm Triết Lý Đạo Cao Đài (Vũ Trụ Quan và Nhân Sinh Quan) của ông, đồng thời ông kết luận:

“Cách đây mấy ngàn năm, Đấng Chí Tôn đã ban cho dân tộc Trung Hoa một hệ thống triết lý về Vũ Trụ và Nhân Sinh rồi đến năm 1926, Ngài lại ban cho dân tộc Việt Nam trên đất nước Việt Nam cũng một hệ thống tư tưởng đó nhưng đã bỏ đi những tư tưởng sai lầm và thêm vào đó những điều thất truyền bởi thời gian  và con người.Như vậy chúng ta đâu cần tranh luận đâu là của người Trung Hoa, đâu là của người Việt Nam mỗi khi chúng ta muốn giải thích một sắc thái hay một vật thể biểu tượng cho Thái Cực, Âm Dương, Ngũ Hành, Tam Tài, Hồn, Phách v.v…Tất cả những sự kiện Văn hóa nầy đều được giải thích rõ ràng trong hệ thống Vũ Trụ Quan và Nhân Sinh Quan của Đạo Cao Đài, vậy hệ thống tư tưởng nầy của Đạo Cao Đài hoàn toàn mang tính chất phát huy và tiếp nối cả một nền văn hóa cổ truyền Việt Nam.”

Ta cũng cần để ý là kết luận của Giáo Sư Nguyễn Huy là cho một tác phẩm về Triết lý, Triết lý Đạo cao Đài, không phải là Cao Đài như là một tôn giáo nên đương nhiên có những giới hạn của nó. Người ta có thể hy vọng ông hay các nhà nghiên cứu khác sẽ đi tiếp con đường nghiên cứu của mình để nhìn Đạo Cao Đài như một tôn giáo theo đúng nghĩa của một tôn giáo..

Hai nhận định tiếp theo:

II- Nhận định thứ hai: Tôn giáo Cao Đài đã góp phần vô cùng tích cực vào những vận động giành độc lập cho đất nước, tự do hạnh phúc cho dân tộc Việt Nam ngay từ ngày đầu khai đạo cho đến tận ngày nay.

III- Nhận định thứ ba: Với quan niệm Tam giáo qui nguyên và Ngũ chi phục nhứt, Cao Đài sẽ là nơi để người ta tìm hiểu những tôn giáo, đặc biệt là Khổng giáo, một thời phát triển và thịnh hành trên đất nước Việt Nam nay chỉ còn một vai trò mờ nhạt.

Tôi xin để dành cho một dịp khác. Có điều tôi tin rằng tất cả quí vị ở đây đều đã có những hiểu biết và luôn cả những kinh nghiệm riêng của mình.

Xin vô cùng cảm tạ Chư Qúi vị.

 HẾT


 

 

  

 

 

Comments