Ngũ Giới Cấm

NGŨ GIỚI CẤM

* Trích Quyển Giáo Lý:

Tác giả: Ngài Tiếp Pháp Trương Văn Tràng

 

 

1. BẤT SÁT SANH

Năm Mậu Thìn (1.1928) Đức Chí Tôn dạy rằng :

Thánh ngôn :

" Thầy đã nói : Khi chưa có Trời Đất, khí Hư vô sanh có một Thầy và ngôi của Thầy là Thái Cực. Thầy phân Thái Cực ra lưỡng nghi . . . Lưỡng nghi sanh Tứ Tượng, Tứ Tượng biến ra Bát Quái, Bát Quái biến hóa vô cùng mà lập Càn Khôn Thế Giới. Rồi Thầy lại phân tánh Thầy mà sanh ra vạn vật là : Vật chất, Thảo mộc, Côn Trùng, Thú cầm, gọi là " Chúng sanh ".

Chú giải : Đoạn nầy đã giảng giải, tinh thường trong chương " Vũ Trụ Quan " ( Xin xem lại )

Thánh ngôn : " Vậy, các con đủ hiểu mỗi vật hữu sanh nơi thế giản nầy đều do Chơn Linh Thầy mà ra. Có sống ắt có Thầy, Thầy là cha sự sống, vì thế nên lòng Háo sanh của Thầy vô cùng tận. "

Chú Giải : Theo lẽ nầy mà suy ra, chúng ta hiểu rằng : Khi một Tiểu Chơn Linh ( Điểm tánh của Chí Tôn chia ra cho mỗi người ) tánh khỏi cội sanh mình thì tùng Đạo biến hóa, lưu hành khắp Càn Khôn Thế Giới, mà hễ đến đâu thì hấp thụ khí chất của Vũ Trụ cấu tạo cho mình một vật thể. Như hiện giờ chúng ta có một phần hồn ( tức điểm tánh của Đức Chí Tôn chia cho ) và một phần xác do Thái Cực Âm Dương, Ngũ Hành cấu hợp ( Khí chất của Võ Trụ ) hồn xác hỗn hóa thành một đơn vị cá nhơn có sanh mạng.

Đạo Đức Kinh chương 42 nói rằng : " Vạn vật phụ Âm nhi bảo Dương xung khí dĩ vi hòa ".

( Muôn loài đều có bồng một Âm, cỏng một Dương, Âm Dương xung khắc mà lại điều hòa thành mạng sống ).

Cái mạng sống ấy do Tiểu Chơn Linh ( Linh Hồn ) vi chủ, cho nên Đức Chí Tôn nói rằng : " Mỗi vật hữu sanh nơi thế gian này đều do Chơn Linh Thầy mà ra, có sống ắt có Thầy, Thầy là Cha của sự sống ".

Sách Nho có câu : " Phụ Mẫu ái tử vô sở bất chi " (Cha Mẹ thương con không sót chỗ nào). Đó là Cha Mẹ phàm còn như thế, huống chi Đức Chí Tôn là " Đại Từ Phụ " Thiêng Liêng hóa dục muôn loài. Đức Ngài sanh hóa vạn vật; tùy thời Khai Đạo và hàng năm xoay chuyển bốn mùa, tám tiết. Năm loài ngũ cốc và các thứ thảo mộc theo thời tiết mà hóa sanh để nuôi dưỡng cái sống còn của vạn vật. Bằng cớ ấy đủ chứng minh lòng Háo sanh vô tận của " Thượng Đế ".

Thánh Ngôn : " Mạng sống của chúng sanh cũng như nhành cây trong cội, phải có đủ ngày giờ Thầy định, để nở bông, sanh trái đặng trồng nữa, biến hóa thêm ra, nếu kẻ nào làm hại nửa chừng là sát hại một kiếp sanh, không cho biến hóa. Mỗi mạng sống đều hữu căn, hữu kiếp, đến thế nầy hoặc lâu hoặc mau đều có định trước, nếu ai giết một mạng sống thì phải chịu quả báo. Mạng sống là của Thầy, mà giết Thầy không phải dễ. Các con rán dạy Nhơn sanh điều ấy ".

Chú giải : Đức Chí Tôn, Thái Cực Thánh Hoàng là cội sanh hóa muôn loài vạn vật. Đức Ngài là một nguồn sống tràn ngập Vũ Trụ. Tất cả vạn vật đều mượn sanh mạng trong nguồn sống vô biên ấy. Thế nên Đức Chí Tôn thí dụ Thái Cực Thánh Hoàng cũng như cội sanh. Mỗi sanh vật cũng như cành hoa trong cội ấy; mỗi sanh vật phải có đủ ngày giờ nhứt định để nó biến hóa thêm ra.

Ví dụ : Hột đậu phải có đủ thời tiết, để nó nức mộng, lên cây, rồi mới trổ trái đậu khác được. Thế nên ai giết một sanh vật là sát hại một kiếp sanh, không cho tiến hóa. Sự sống là Thầy, mà giết Thầy không phải dễ.

Luật thế gian còn định tội nặng nề cho kẻ sát nhơn, huống chi luật tự nhiên Nhơn Quả, cho nên kẻ giết mạng sống thì phải chịu quả báo không sai.

Đức Chí Tôn cấm sát sanh là lẽ như vậy.

Nói rút lại, chúng ta cứ suy gẫm mấy điều đã nói trên cho nó nhập tâm rồi chúng ta biết sợ luật Trời mà chẳng dám sát hại sanh vật. Đó là một cách trì giới đắc lực vật.

Không sát hại là một việc, rồi còn phải tùy phương tiện mà giúp đở muôn loài là một việc khác nữa. Lợi sanh vạn vật tức là lợi sanh cho cá nhân mình. Lòng bác ái dạy chúng ta yêu thương muôn vật như yêu thương thân mình là lẽ như vậy.

Vả lại, muôn loài vạn vật do một Ông Cha mà sanh thành, nên chúng ta cùng muôn loài vạn vật là anh em. Thế nên chúng ta mở rộng lòng yêu thương giúp đỡ lẫn nhau trên đường về với Đại Từ Phụ. Lòng bác ái nên vâng theo đức háo sanh của Thái Cực Thánh Hoàng mà thể hiện .

2. BẤT DU ĐẠO 

Năm Mậu Thìn (1928) Đức Chí Tôn dạy rằng :

Thánh Ngôn : Ôi ! Thầy sanh các con, Thầy yêu các con. Thầy cho các con đến thế nầy với một Thánh Thể Thiêng Liêng, y như hình ảnh của Thầy : Không ăn màsống, không mặc mà lành. Các con không chịu, lại nghe lời cám dỗ, luyến ái hồng trần.

Ăn phải cho bị đày, dâm phải cho bị đọa, rồi các con phải chịu dưới nạn áo cơm.

Lợi, Thầy để cho các con chung hưởng, nhưng vì lòng tham : Đứa giựt nhiều, đứa phải chịu kém.

Quyền, Thầy ban cho các con, y như Thầy đã ban cho Thần, Thánh, Tiên, Phật để các con có đủ phương tiện kềm chế lẫn nhau đặng giữ vẹn Thánh Thể của Thầy. Thế mà cái quyền ấy lại thành một món lợi khí, buộc trói các con trong tội lỗi. Ôi ! Cái thất vọng của Thấy rất nên đau đớn.

Các con có hiểu, vì sao Nhơn sanh có lòng tham gian chăng ? Thì cũng vì muốn có nhiều kẻ phục tùng, không chi bằng nắm chặt quyền phân phát áo cơm, phải dùng đủ mưu chước quỷ quyệt thâu đoạt : lợi lộc thế quyền. Vì vậy mà đời trở nên trường hỗn độn tranh đấu, giựt giành, mạnh được yếu thua, mất hẳn công bình thiên nhiên Tạo Hóa.

Ấy vậy phải biết rằng : Tham lam vào Tâm, Tâm hết Đạo đức, tham lam vào nhà, nhà hết Chánh giáo, tham lam vào nước nước hết chơn trị, tham lam lộng khắp Thế giái. Thế giới hết Thần Tiên. Lòng tham lam có thể giục các con lỗi Đạo cùng Thầy. "

Chú Giải : Bài Thánh Giáo trên đây đã rõ lắm rồi, khỏi phải chú giải nữa, duy có câu Thánh Ngôn nói rằng : Thầy cho các con đến thế giới nầy với " Thánh Thể Thiêng Liêng vân vân . . . . "

Thánh Thể Thiêng Liêng tức là điểm Linh Quang của Đức Chí Tôn và một phần Tiên Thiên khí của Thái Cực. Hai phần ấy hỗn hợp thành Thánh Thể, Thánh Thể ấy chẳng ăn mà sống, chẳng mặc mà lành, nhưng khi nhập thế cuộc, chúng ta vì cố chấp phàm tâm ham muốn vật chất, cầu thỏa mãn phàm thân. Đó là cái mầm khiến người ta tham lam, giành giựt lợi quyền mà sanh ra thất Đạo, cho nên Đức Chí Tôn nói tham lam đến đâu thì tai hại đến đó.

Phải biết rằng : Tài vật của người, dầu ít nhiều, dầu lớn nhỏ đều do người làm nhọc nhằn mới tạo ra được. Nay, chúng ta trộm cắp của người, để làm của mình, dầu cách nầy, hay cách khác, cũng đều là một việc thái ư bất công. Bất công thì chẳng những phạm luật Trời mà mích lòng người nữa. Muốn tránh sự trộm cắp, thì đừng tham lam, mà muốn chẳng có lòng tham lam chúng ta nên biết tri túc và bố thí.

Tri túc : Là biết đủ, tức cầu cho mình đủ ăn, đủ mặc thì thôi chớ chẳng nên vọng cầu những của phi nghĩa. Nếu chẳng biết đủ thì lòng tham nổi lên mà xúi chúng ta vơ vét của cải về cho mình, để rồi lại cho con cháu mình nữa. Ngạn ngữ nói : " Túi tham không đáy, chứa bao nhiêu cũng không đầy ".

Đạo Đức Kinh chương 44 nói rằng :

"Thậm ái tất thậm phí,
Đa tàng tất đa vong.
Tri túc bất nhục.
Tri chỉ bất đãi
Khả dĩ trường cửu. "

Tham thì thâm, chứa nhiều ắt mất nhiều. Biết đủ không nhục, biết dừng chân ở ngoài vòng tranh đấu lợi danh thì không hại và có thể lâu dài.

Bố thí : Chúng ta nên tùy phương tiện của mình mà thí tài, hay thí pháp, bố thí mà không cầu người trả ơn. Muốn cho đức ấy được tỏ rạng, phải mở lòng vị tha, nghĩa là vì người mà bố thí chớ không phải buôn quyền bán danh.

Kẻ xả thân hành Đạo thì hay hòa mình với Đạo, hòa sống với chúng sanh. Thử nghĩ thân còn chẳng có thân riêng, huống chi là tài sản. Suy tưởng, ngẫm nghĩ như thế, thì lòng vị tha sẽ khai hoát. dể thay thế cho tánh ích kỷ.

3. CẤM TÀ DÂM 

Thánh Ngôn đề ngày 26-6 Bính Dần (30-6-1926)

Vì sao Tà dâm là trọng tội ?

Nguyên xác thân con người, tuy mắt phàm xem như một, tựu trung chất chứa vàn vàn, muôn muôn sanh vật. Sanh vật ấy cấu kết nhau thành tế bào ( Formation de cellules ). Nó có tánh linh, chất dưỡng sanh nó là rau cỏ, bông trái, lúa gạo. Thử hỏi những lương vật nầy, nếu chẳng có chất sanh và chẳng hàm chưa sanh lực thì thế nào nó tươi đặng. Hoặc giả, nếu nó có khô rũ thì nó phải chết, mà các con có ăn vật khô héo bao giờ. Còn như dùng lửa nấu, bất quá tẩy trược mà thôi; kỳ thật, sanh vật bị nấu chưa hề chết. Vật ăn vào tỳ vị tiêu hóa ra khí, khí biến ra huyết. Nó có thể hườn thành Nhơn hình, vì vậy mới có cơ sống chết của chúng sanh. Một giọt máu là một khối Chơn linh, nếu các con dâm quá độ. tức là sát hại nhiều Chơn linh, khi các con thoát xác, nó đến Nghiệt Cảnh Đài mà kiện, các con chẳng hề chối đặn.
Vậy các con phải giữ gìn giới cấm nầy cho lắm."

Theo Thánh Ngôn trên đây, chúng ta đã hiểu sự dâm dục có hại cho kẻ hành giả là dường nào.

Vả lại, phàm thân do Nhơn duyên cấu sanh, mà hể có sanh thì tự nhiên có tử. Và khi tử thì duyên phải tan rã và trở về với đất nước gió lửa. Thế thì nhục thân có trường tồn đâu mà phải cần khoái lạc nhứt thời cho nó, đề rồi gây ra tội tình, Nhơn quả cho phần hồn phải chịu muôn năm, ngàn kiếp, nhứt là : Quyến rũ vợ con người vào đường quấy là phá hại gia cang người, lại là một việc ác đứng đầu trong muôn việc ác khác.

Gia dĩ, dâm dục sát hại nhiều Chơn Linh, khi thoát xác. chúng nó kiện nơi Nghiệt Cảnh Đài, chúng ta không chôi tội được. Vậy kẻ tu hành chớ nên ham vui một thuở mà chịu khổ cả muôn đời.

Tóm lại, thân thể người chẳng khác thân thể động vật. Điều chính của nó là hành động mà hành động của nó lại khuynh hướng về tư kỷ nhiều hơn, cho nên chúng ta phải cố gắng gìn giữ giới cấm nầy, để trị thân thể và đem nó về đường Chánh Đạo.

4. BẤT ẨM TỬU ( Không nên uống rượu )

Thánh Ngôn Đức CHÍ TÔN đề ngày 15-12 năm Bính Dần (18-1-1927) Vì sao phải giới tửu ?
Thân thể con người là một khối Chơn Linh hiệp thành. Chơn Linh ấy hằng sống, Ngũ Tạng Lục Phủ cũng là khối sanh vật tạo nên. Phận sự của chúng nó hoặc hiểu biết hoặc không, đều tùy lịnh Thầy phán đoán, vậy Thầy lấy hình chất xác phàm để giảng dạy.

Hình chất con người cũng như hình chất thú, phải ăn uống mới sống được. Rượu vào tỳ vị, chạy khắp Ngũ tạng, Lục phủ. Trái tim là chủ động của bộ máy sanh sống, mà trái tim bị rượu thâm nhập, khiến cho nó rung động quá mức thiên nhiên đã định, thôi thúc huyết mạch vận hành, một cách quá mau lẹ. Sanh khí nơi phổi không có đủ ngày giờ nhuận huyết, rồi trược huyết thối nhập trong thân thể, truyền thống những chất độc vào trong những sanh vật. Mỗi khối sanh vật ăn rồi phải bịnh, càng ngày càng tăng thêm, rốt cuộc hết sanh lực, cốt tủy lần lần phải chết, thân thể tự nhiên chết theo. Nhiều kẻ bị tê liệt hết nửa thân mình cũng vì rượu.

Thầy nói sự hại của phần hồn : Thầy nói Chơn Thần là khí chất ( Le sperme évaporé ) bao bọc thân thể các con. Trung tim nó là óc, cửa xuất nhập của nó là mỏ ác, chữ gọi Vi Hộ, Hộ Pháp hằng đứng giữ gìn các con khi luyện Đạo, đặng phép giúp cho Tinh hiệp với Khí rồi đưa khí đến Chơn Thần. Tinh, Khí, Thần hiệp nhứt mới siêu phàm nhập Thánh. Đó là nguồn cội của sanh khí mà óc cũng vì huyết mạch vận chuyển vô chừng, đến đỗi tán loạn. Thế rồi Chơn Thần an tịnh thế nào đặng thân thể phải chịu ngây dại trở nên thú tánh, thú chất. Như vậy thì mất hết Nhơn Phẩm rồi, còn mong chi đến địa vị Thần Tiên; lại nữa, trong buổi loạn thần, cửa để trống tà mị thừa cơ xâm nhập, giục các con làm quấy gây nên tội tình mà phải chịu luân hồi muôn kiếp.

Vậy Thầy cấm các con uống rượu ".

Vấn đề kiên rượu, cólẽ trong hàng Anh em chúng ta người nào cũng đã có bị một lần say rượu. Vậy sự kinh nghiệm ấy đã dạy chúng ta biết với một cách rõ ràng rằng : Say rượu chẳng những loạn trí não mà Ngũ tạng cũng không còn giữ được chơn lực nữa. Thế thì giới tửu là một điều cấm quan trọng vậy.

5. BẤT VỌNG NGỮ (Chẳng nên nói dối )

Thánh Ngôn : Đức Chí Tôn có dạy năm Mậu Dần (1928)
" Nơi thân phàm các con Thầy cho một Chơn Linh theo gìn giữ. ChơnLinh ấy vốn vô tư, đặng phép thông công cùng Thần, Thánh, Tiên, Phật và các Đấng Trọn Lành nơi Ngọc Hư Cung, nhứt nhứt việc lành, việc dữ đều có ghi. Vậy nên một mảy lành dữ đều có trả.

Lại nữa, Chơn Linh ấy có tánh Thánh nơi mình, chẳng phải gìn giữ các con, mà còn dạy dỗ nữa. Đời thường gọi là Lương Tâm. Thánh xưa nói rằng : Khi Nhơn tức khi Tâm, khi Tâm tức khi Thiên, khi Thiên đắc tội, hoạch tội ư Thiên vô sở đảo. Như các con nói dối, điều ấy chưa dối đặng người, mà các con đã dối lương tâm mình. Một lời nói, tuy chưa thi hành, song tội tình cũng đồng thể, như các con đã làm. Thầy dặn các con : phải cẩn ngôn, cẩn hạnh, thà các con làm tội mà chịu tội cho đành, chẳng hơn các con nói tội mà phải chịu trọng hình đồng thể ".

Theo giới cấm nầy, ngườit tu không được nói dối, dầu việc lớn hay nhỏ, trọng hay khinh cũng vậy. Cổ nhơn nói : " Nhơn bất tín bất lập ". Đối với thế nhơn : Mình mất tín nhiệm còn không làm nên được, huống chi đối với Trời Phật, cho nên chúng ta phải nói chơn thật và khi nói ra rồi phải giữ lời. Người tu chẳng những không nói dối, mà còn phải nói chơn chánh nữa. Nếu gặp sự thì phải theo sự mà nói thành thật, để cho người nghe tin dùng; nếu gặp lý thì phải tùy lý mà nói minh bạch để cho người nghe hết nghi.

Cấm lưỡng thiệt : Người tu không được đem việc đầu nầy mà nói đầu kia làm cho người nầy giận kẻ nọ mà sanh ra đôi co, cãi cọ.
Phải lánh xa những việc nói xấu kẻ khác, tức là nói hành.

Cấm ác khẩu : Người tu không được nói lời hung dữ, như chửi rủa chẳng hạn. Trái lại, phải dùng lời nói hiền lành, bàn việc hữu ích, phải dùng lời dịu ngọt, an ủi người khốn khó. Nếu gặp người nói hung dữ như : mắng lộn, chửu lộn, thì phải dùng lời êm thắm mà khuyên dứt đôi đường. Nếu gặp người làm việc gì mà thối chí, ngã lòng, thì nên dùng lời nghĩa lý mà khuyên nhủ cho bạn khởi lòng tinh tấn.

Cấm ỷ ngữ : Người tu không được dùng lời khôn khéo, để khêu gợi nguyệt hoa, không được dùng lời bóng bẩy, dể xuyên tạc kẻ khác. Trái lại phải nói ít và thiệt thà.

Bốn giới cấm để kềm dẫn khẩu căn vào cõi thanh tịnh. Người tu chẳng ai mà không biết, nhưng, biết thì dễ mà thực hành thì khó, mà nếu không thực hành được thì cũng như không biết. Đó là chỗ nói rằng : " Học mà không hành thì cũng như không học ". Vậy chúng ta khuyên nhau gắng gượng tiến lên đường đạo đức thực hành.

Ban đầu chúng ta tập ít nói, để có ngày giờ suy nghĩ, trước khi thốt ra lời. Về sau, quen rồi thì việc khó hóa dễ.

HẾT

 

 

Comments